Category Archives: Tin tức

Tìm hiểu về các làng nghề thủ công truyền thống tại An Giang

An Giang có nhiều nghề thủ công truyền thống: chạm khắc đá, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề dệt… mỗi nghề đều có lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo. Toàn tỉnh hiện nay có 82 làng nghề truyền thống gắn với dịch vụ phát triển du lịch. Một số làng nghề tiêu biểu như:

– Lụa Tân Châu: Từ xưa, Tân Châu đã nổi tiếng với nghề ươm tơ dệt lụa. Đây cũng chính là nơi sáng tạo nên loại lụa Mỹ A nổi tiếng một thời. Lụa Tân Châu nổi tiếng nhờ dệt bằng tơ tằm. Những sản phẩm bền và đẹp như hiện nay là kết quả của cả một quá trình người làng nghề không ngừng học hỏi, đổi mới công nghệ và luôn tìm ý tưởng sáng tạo nên những mẫu mã mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

làng lụa tân châu an giang

– Chiếu Tân Châu: Từ rất lâu người dân Tân Châu đã dệt ra những manh chiếu trắng dùng trong sinh hoạt. Chiếu này được dệt từ sợi lát, là loại chiếu có màu trắng hình thức giản đơn, chất lượng trung bình.

– Làng dệt thổ cẩm Châu Phong: Dân tộc Chăm ở An Giang có trên 12.000 người, sống tập trung thành ấp hay liên ấp, xen kẽ trong những xã của người Kinh. Địa bàn dân cư ấy trải dài từ khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia đến ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, huyện Phú Tân, nằm bên kia sông ngang thị xã Châu Đốc. Tộc người Chăm thường sống thành cụm ven sông. Đàn ông đánh bắt thủy sản, còn phụ nữ Chăm do tục cấm cung nên thường ở nhà dệt vải. Sản phẩm của phụ nữ Chăm được dệt nên bởi chất liệu tơ, sợi. Điểm nổi bật của sản phẩm dệt Chăm là nhuộm bằng chất liệu có từ thiên nhiên như mủ cây, vỏ cây và trái cây.

– Làng nghề mộc Chợ Thủ, xã Long Điền A: Xã Long Điền A nằm giữa hai thị trấn Chợ Mới và Mỹ Luông là hai đầu nối thuận lợi cho việc buôn bán và trao đổi hàng hóa. Làng nghề mộc Chợ Thủ Xã Long Điền A tập trung ở 04 ấp là Long Bình, Long Định, Long Thuận 1, Long Thuận 2 với 1.369 hộ tham gia nghề mộc. Sản phẩm của làng nghề rất đa dạng kể cả đồ chạm trổ nói chung là đồ trang trí nội thất, gồm các chủng loại gỗ khai thác từ rừng, gỗ công nghiệp, nhôm, mica và cimen…

Làng nghề mộc Chợ Thủ

Phát triển du lịch gắn với làng nghề không đơn thuần chỉ là trình diễn và bán sản phẩm. Du lịch làng nghề phải gắn với không gian văn hóa của mỗi làng nghề, đó là các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội của cộng đồng dân cư sống trong làng nghề đó. Du khách đến tham quan ngoài việc chiêm ngưỡng các quy trình để làm ra sản phẩm hoặc đích thân tham gia vào quy trình sản xuất sẽ được hòa mình vào với không gian văn hóa, kiến trúc của làng nghề để cảm nhận tận cùng những nét văn hóa ẩn chứa trong từng sản phẩm.

Hiện tại, du lịch An Giang đã tận dụng tốt sự kết hợp này, đem những làng nghề truyền thống vào phát triển du lịch, nhằm tạo việc làm cho người dân địa phương, thu hút khách du lịch, đồng thời cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh du lịch của An Giang đến với du khách, biết được những đặc trưng văn hóa, sinh hoạt sản xuất của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh việc phát triển làng nghề phục vụ cho du lịch thì hoạt động du lịch đôi khi cũng ảnh hưởng ngược trở lại, đó là do sự tập trung đông khách du lịch vào các làng nghề, làm mất đi tính tự nhiên, hoặc do sự xuất hiện của các dịch vụ phục vụ du khách làm cho các làng nghề truyền thống không còn mang tính đặc trưng riêng của mỗi nghề.

Bảy Núi Thất Sơn linh thiêng ở An Giang

Bảy Núi còn có tên là Thất Sơn, các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn xưng là Bửu Sơn, gồm bảy ngọn núi không liên tục, đột khởi trên đồng bằng miền Tây Nam Bộ, thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam.

1.- Nguồn gốc của Bảy Núi

Ngược dòng lịch sử khoảng một triệu năm trước, trong thời kỳ Pleistocene, hàng loạt các hoạt động tân kiến tạo đã làm vỏ trái đất ở khu vực Bảy Núi bị nức nẻ, lún sụt hoặc nhô cao nhiều nơi. Sau đó là những đợt biển tràn ngập cả vùng Nam Bộ khoảng 10.000 đến 11.000 năm thì chấm dứt. Dấu tích của những thời biển tiến này còn để lại các bậc thềm biển cổ ở những vùng quanh núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cường… của huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Phần nhô cao tức đồi núi ở An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km. Khởi đầu từ xã Phú Hữu (huyện An Phú) qua xã Vĩnh Tế (thị xã Châu Đốc), bao trùm lên gần hết hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, về tận xã Vọng Thê, Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập của huyện Thoại Sơn.
Đứng trên góc độ địa hình, có thể chia đồi núi An Giang thành hai dạng chính:-
• Dạng núi dốc: được hình thành trong thời kỳ tạo sơn mãnh liệt như đã nói trên, nên chúng thường cao và có độ dốc lớn trên 25 độ và phần lớn là đá cứng với nhiều pha tạp khác nhau (đá núi lửa và đá Granitoit có tuổi Jura thượng, đá Granite có tuổi Creta), như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài…
• Dạng núi thấp và thoải: được hình thành từ các thành tạo trầm tích và phun trào có tuổi trias và Creta nên có độ dốc nhỏ dưới 15 độ, độ cao thấp, ít khe suối và bề mặt có khi là đất, như núi Nam Qui, núi Sà Lon, núi Đất…
Và vùng Bảy Núi khi xưa là đất của Chân Lạp. Rồi trong một cuộc tranh giành quyền lực, Nặc Ông Tôn được chúa Nguyễn giúp đỡ đã trở lại ngôi vua. Để tạ ơn, Nặc Ông Tôn hiến đất Tầm Phong Long, trong đó có Bảy Núi, vào năm 1757.

2.- Giới thiệu tên 7 núi Thất Sơn

*- Bảy Núi (THẤT SƠN)
Bảy Núi là 7 ngọn núi tiêu biểu trong số 37 ngọn núi, ở hai huyện vừa kể trên. Tên Thất Sơn lần đầu được biên chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí (phần An Giang tỉnh, mục Sơn Xuyên), và gồm các núi: Tượng, Tô, Cấm, Ốc Nhẫm, Nam Vi, Tà Biệt và Nhân Hòa. Sau đó, Hồ Biểu Chánh trong Thất Sơn huyền bí và Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn mầu nhiệm, cho rằng đó là các núi: Tượng, Tô, Cấm, Trà Sư, Két, Dài, Bà Đội Ôm.
Còn theo Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1972; được Vương Hồng Sển dẫn lại trong Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam, thì đó là các núi: Tượng, Tô, Cấm, Sam, Két, Dài, Tà Béc…
Đến năm 1984, Trần Thanh Phương cho xuất bản Những Trang sử về An Giang, đã kể tên bảy Núi là:

• Núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), xem du lịch núi Cấm An Giang
• Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn)
• Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn),
• Núi Dài (Ngọa Long Sơn),
• Núi Tượng (Liên Hoa Sơn)
• Núi Két (Anh Vũ Sơn)
• Núi Nước (Thủy Đài Sơn).

Theo Địa chí An giang…., ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên có 37 ngọn núi đã có tên, nhưng con số 7 (bảy núi) vẫn không hề thay đổi.
Mặc dù Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn đã đề cập đến bảy điểm “linh huyệt” của vùng Thất Sơn, rồi chọn ra những núi đã nêu trên, nhưng so sánh lại những tên núi, vẫn có khác biệt.
Lý giải cho điều này, hiện nay vẫn chưa có lời giải thích nào ổn thỏa. Nhưng điều dễ thấy trong việc sắp xếp núi non này, đã chịu ảnh hưởng rất nhiều những yếu tố thần bí, siêu nhiên, phong thủy…

những khu vui chơi ở An Giang

3.- Khoáng sản của vùng Bảy Núi An Giang

Bảy Núi rất phong phú về khoáng sản, như:
• Nhóm vật liệu xây dựng: Đá granit ở núi Cô Tô, núi Ba Thê, núi Két, núi Tượng, núi Sập, núi Trà Sư…Cát xây dựng nằm theo triền hoặc nơi các trũng giữa núi Cấm và núi Dài.
• Nhóm vật liệu trang trí: Đá ốp lát ở núi Cấm, núi Dài Nhỏ…
Đá aplite, một thành phần quan trọng để sản xuất ra gạch ceramic, để làm hạ nhiệt nóng chảy của cát, trong các lò chế tạo thủy tinh, được tìm thấy nhiều nơi ở Bảy Núi.
Ngoài ra, còn có các khoáng sản khác, như: than bùn ở các xã Núi Tô, Châu Lăng, Lương Phi, Ba Chúc, An Tức…; mỏ vỏ sò ở núi Chóc; mỏ đất sét cao lanh, đá quý và ngọc ở Nam Qui, Tà Pạ; quặng kim loại molipden ở núi Sam, núi Két, núi Trà Sư; quặng mangan ở vùng Tà Lọt; nước khoáng thiên nhiên ở núi Dài, núi Cô Tô, núi Cấm và bột Diatomite ở núi Cấm, núi Dài…

4.- Thực vật vùng Thất Sơn

Khi xưa, vùng Bảy Núi phần lớn là rừng rậm nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý. Đến thế kỷ thứ 17, nơi đây hãy còn hoang vu. Thái Văn Trừng đã xếp các quần thể rừng của Bảy Núi trong kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới với cấu trúc 3 tầng rõ rệt: tầng cây gỗ như dầu, căm xe, lăng ổi, bời lời, quế, gõ mật, nính…, tầng cây bụi như sâm ngọt, sâm núi, mua lông, bưởi, chanh…, tầng thân thảo và quyết thực vật như sa nhân, gừng dại, giềng rừng…

5.- Động vật tự nhiên

Trước đây, vùng Bảy Núi có nhiều loại chim muông và thú rừng. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí viết: Ở núi Nam Vi cây cối um tùm, khe sâu cỏ rậm, rất nhiều hươu, nai, hổ, báo…Còn ở núi Khe Săn (Khê Lạp) có cây tùng, cây trúc tốt tươi, hươu nai tụ tập…nhân dân thường đến núi này để tìm mối lợi.. Ngoài ra, Trịnh Hoài Đức còn cho biết về thú rừng có hổ, báo, nai, hươu, cáo, vượn, khỉ; về chim có phượng hoàng, quạ… Ngày nay, chỉ còn một số ít loài, như heo rừng, khỉ, nhím, rắn…còn phần nhiều những loài mà Trịnh Hoài Đức kể trên gần như không còn nữa.

6. – Thất Sơn suối cong nhả ngọc

Nói về mặt tự nhiên của vùng Bảy Núi, Gia Định thành thông chí mô tả: Hang núi ngậm mây, suối cong nhả ngọc, lại có những cây giáng hương, tóc hương, cây cối xanh um, cầm thú béo mập. Phía đông có ruộng đồng bằng phẳng, phía tây có hồ nước… Ngoài ra, còn nghe gà gáy dưới bóng trăng, chó sủa trong hang động, cảnh huống yên hà ngoài thế giới vậy
Ở trong sách trên còn cho biết sự hiện diện của những người Việt đến sinh sống, hòa nhập với người Khmer, ở vùng Bảy núi vào mấy thế kỷ trước. Họ đến để khai thác nguồn lợi thiên nhiên, lập vườn cây ăn trái, trồng hoa màu, tìm dược thảo, làm ruộng ở chân núi, bắt cá vào mùa hạn ở các ao đìa…
Sau này, vùng Bảy Núi còn là nơi hội tụ của những sĩ phu yêu nước trong phong trào Cần Vương. Vì nơi đây vừa có đồng bằng thuận lợi cho việc canh tác, vừa có núi rừng trú ẩn, có lối trốn sang nước Campuchia, nếu bị đối phương lùng sục… Cho nên rất nhiều người đã tìm đến đây, mỗi người mang mỗi tâm trạng, đến để chuẩn bị chiến đấu, để chờ thời cơ hay chỉ để lãng quên thực tế…. Vì vậy, vùng đất này gắn liền tên tuổi của nhiều danh nhân như: Đoàn Minh Huyên, Thủ Khoa Huân, Trần Văn Thành, Ngô Lợi, Phan Xích Long, Trương Gia Mô v.v…
Đây cũng là nơi hội tụ nhiều ông đạo, bởi vậy có câu: Tu Phật Phú Yên, tu tiên Bảy Núi
Vùng Bảy Núi còn là nơi có nhiều lễ hội, phong tục… đặc thù của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ, như lễ Chol Chnam Thmay, lễ Pisat bo chia, lễ Pha Chum Bênh (tức lễ Đôn Ta)…và đặc biệt hơn cả là lễ hội Đua bò Bảy Núi được diễn ra vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 hằng năm…

Ngoài ra, Bảy Núi còn là phên dậu nơi chốn biên thùy. Vua Gia Long đã từng nói: Địa thế Châu Đốc, Hà Tiên cũng không kém Bắc Thành…

Và là nơi có vô số danh lam, thắng cảnh…

Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, có câu:
Thất Sơn, hòn dọc dãy ngang,
Nói sao cho hết cả ngàn phong cương
NÚI CẤM
Núi Cấm còn được gọi là Núi Ông Cấm hay Thiên Cấm sơn, Thiên Cẩm Sơn; tên Khmer: Pnom ta piel hay Pnom po piêl; là một ngọn núi tại địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam.
1.- Vị trí, đặc điểm
Núi Cấm có độ cao 705 m, chiếm chu vi 28.600m, là một ngọn núi cao nhất trong Thất Sơn và cao nhất tỉnh. Núi nằm trên địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, cách trung tâm TP Long Xuyên khoảng 90km theo Quốc lộ 91 rẽ qua tỉnh lộ 948, và cách thị xã Châu Đốc không xa.
2.- Tên núi
Núi Cấm hay Cấm Sơn là tên gọi chính thức bằng văn tự đầu tiên xuất hiện trong Đại Nam nhất thống chí được biên soạn vào cuối thế kỷ 19. Sách đã miêu tả: …thế núi cao ngất, cây cối tươi tốt, là một trong Bảy Núi. Vì núi cao nên ít người lên đến chót.
Còn trước đó, theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, ngọn núi này được gọi là núi Đoài Tốn. Và tác giả cho biết núi cao 50 trượng, chu vi 20 dặm dư hình như cai đài cao, nghiễm nhiên ở về cung Thìn Tỵ nên gọi là núi Đài Tốn…Núi cao đột ngột, sinh sản các loài trầm hương, tốc hương, súc sa, cây sao, giáng hương, thông tre. Cây cối tốt tươi có đường cong queo thông trong núi sâu, dấu người qua lại, gần nơi đồng ruộng, xa có bến nước, kẻ cày cấy, người đánh cá chia từng loại ở nơi chân núi…
*Có nhiều giả thuyết về cái tên núi Cấm :-
Theo Nguyễn Văn Hầu, giả thuyết đáng tin cậy hơn cả là Đoàn Minh Huyên (tức Phật Thầy Tây An) đã cấm các tín đồ của mình lên đó cất nhà lập am, bởi sợ sẽ ô uế chốn núi thiêng.
Một giả thuyết khác, Nguyễn Phúc Ánh khi bị quân Tây Sơn truy nã, có lúc phải vào núi này nương thân. Muốn tông tích được giấu kín, các cận thần phao tin có ác thú, yêu quái, để cấm dân chúng vào núi.
Cũng có người cho rằng tướng cướp Đơn Hùng Tín (biệt danh của Lê Văn Tín, quê Cao Lãnh) có lúc dùng nơi này làm sào huyệt. Sợ lộ, Tín cấm dân lên núi.
3.- Năm Vồ
Vồ (hoặc non), từ dùng chỉ một chỏm cao trên dãy núi.
Theo Nguyễn Văn Hầu [4], năm non trên núi Cấm bao gồm :
• Vồ Bồ Hong: cao 705 m[2], cao nhất. Tương truyền vồ có tên này, vì trước đây có nhiều côn trùng gọi là bồ hong sinh sống. Ở trên vồ cao này có tượng thờ Ngọc Hoàng, là nơi được nhiều người đến tham quan và lễ bái.
• Vồ Đầu: đỉnh cao đầu tiên của Núi Cấm tính từ phía Bắc, cao 584 m.
• Vồ Bà: cao 579 m, có điện thờ Bà Chúa Xứ.
• Vồ Ông Bướm: (hay Ông Voi) cao 480 m tương truyền xưa kia có hai người Khmer lưu lạc tên ông Bướm và ông Vôi đến cư trú, nên mới có tên như thế.
• Vồ Thiên Tuế: cao 541 m, nơi đây trước kia là rừng cây thiên tuế.
Thực tế, núi Cấm còn có nhiều vồ hơn nữa, như Vồ Chư Thần, Vồ Cây Quế, Vồ Mồ Côi, Vồ Đá Dựng, Vồ Pháo Binh v.v…

4.- Danh thắng Thất Sơn An Giang

Núi Cấm nơi du lịch nổi tiếng của tỉnh An Giang: vì núi có dáng vẻ hùng vĩ, khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp và cây cối luôn xanh tươi. Trên núi có: Chùa Vạn Linh, chùa Phật Lớn, tượng Phật Di Lặc, Cao Đài Tự…
Ngoài ra, dọc theo những lối mòn từ chân lên tới đỉnh núi có nhiều điểm tham quan như: suối Thanh Long, suối Tiên, điện Cây Quế, điện Mười Ba, điện Tam Thanh, điện Huỳnh Long, hang Ông Thẻ, hang Ông Hổ, hang Bác Vật Lang, động Thủy Liêm.
Dưới chân núi Cấm, về phía Đông là khu du lịch Lâm Viên, với diện tích khoảng 100 ha, có cảnh quan đẹp, có đường tráng bê tông khá rộng lên đến đỉnh.
Bên cạnh các nguồn lợi từ du lịch, hành hương, cây trái… núi Cấm còn có các nguồn lợi khác từ tài nguyên, như đá xây dựng, cát núi, đất sét cao-lanh và nước khoáng thiên nhiên…
Núi Cấm An Giang (còn gọi là Thiên Cấm Sơn) cách Châu Đốc gần 30km đi về hướng Tịnh Biên – Tri Tôn; 710m là ngọn cao nhất trong dãy Thất Sơn. Những ngọn còn lại: núi Trà Sư, núi Két, núi Bà Đội Om, Cô Tô, núi Dài, núi Tượng…
Càng đi về phía mạn Campuchia càng thấy rõ ven đường là những dải đồng được viền bằng màu xanh của những cây thốt nốt cao vút, lá tua tủa. Những hàng quán đặc sản mắm khá dày.
Vùng đệm này là điểm mút của “cái lá dâu” trong kế lược tằm ăn rỗi (tàm thực) của Nguyễn Cư Trinh năm 1757 nhằm mở mang bờ cõi về điểm cùng của phương Nam. Đất này còn thể hiện rõ dấu ấn văn hoá Chân Lạp trong ngôn ngữ của một số cư dân địa phương hay hệ thống chùa Khơme…
“Đường dẫn” Thiên Cấm Sơn
Đến chân núi đã quá nửa chiều. Một nhóm chọn cách đi xe ôm theo con đường mới mở, xe bốn chỗ lên đỉnh núi khá rộng, dài 7km. Đứng từ xa nhìn, như một vết lằn lở lói chém xéo vách núi. Giá xe ôm: 50 ngàn cho một cuốc đi, về (nếu có ý định đi xe ôm nên thoả thuận giá trước, tránh tình trạng co kéo về sau).
Cũng như những điểm hành hương khác, cảnh ngổn ngang hàng quán bình dân và mời chào khá rộn ràng dù không phải là mùa đông du khách.
Trong đoàn, có người vừa hay tin mẹ mình lâm trọng bệnh, chị ta quyết định leo 4 km đường bộ để lên núi gặp Phật, khấn nguyện cho mẹ mình tai qua nạn khỏi.
Hai bên là những hàng quán xộc xệch, ngổn ngang lều bạt, bán cơm, nước phục vụ khách hành hương, nhiều đặc sản, trong đó một số quán còn rao bán cả thịt rừng. Nhiều gian che tạm cho khách thuê ngồi nghỉ trưa hoặc ngủ lấy sức trên chặng đường “đăng sơn kiến Phật”.
Kiểu kinh doanh bình dân đặc trưng trong du lịch hành hương của người Việt. Những con dốc đứng, nhiều chặng đường nhầy nhụa sình lầy và ổ gà, ổ voi… rồi cũng đến được đỉnh núi.
Trải ra trước mắt là một khung cảnh hoàng hôn huyền ảo. Mặt trời nghiêng đỏ trên vồ Bồ Hong – 710m, đỉnh cao nhất của núi Cấm (dân địa phương gọi đỉnh là vồ). Những vồ Đầu Tròn, vồ Bướm thoai thoải như hình sấp của đôi cánh bướm… phô lên nền trời rực đỏ một sắc của không gian huyền thoại.
Ngọn tháp bảy tầng của chùa Vạn Linh như một điểm nhấn đẹp trên nền hoàng hôn an bình. Vạn Linh Tự với những mái cong như những đài sen phá cách và phóng khoáng, một kiểu kiến trúc gần với chùa Phật giáo Đại Thừa.
Đứng từ tầng thứ 7 của ngọn tháp này, phóng tầm mắt có thể thấy hình dáng trải dài 30 km của dãy Thất Sơn, chạy dài theo trên mạn bằng chỉa cửa sông. Và đứng từ đây cũng thấy rực lên trong màu nắng chiều là tượng Phật Di Lặc với nụ cười an lạc vô ưu.
Tượng cao 32m đang được xây dựng vào giai đoạn cuối có bàn chân giao chỉ. Bên trong tượng là ngôi nhà 8 tầng, nghe nói sẽ là nơi để khách hành hương về vãng chùa viếng Phật có thể ở lại tĩnh tâm.
Gặp nụ cười của Phật toả sáng trên đỉnh Núi Cấm, cao nhất của dãy Thất Sơn. Người đàn bà đứng tuổi đã vượt qua chặng đường dài, quỳ trước tượng Phật và khấn nguyện cho người mẹ được bình yên.
Hành trình tâm linh – khám phá núi Cấm hoàn tất với cuộc diện kiến Phật ngay trong chính những bước chân thành tâm lẫn thách thức trở ngại! Hành trình thoả mãn vì đích đến là nụ cười của Phật!

vùng đất thất sơn an giang

5. – Rừng Trà Sư – An Giang

Rừng tràm Trà Sư nằm trong khu vực Thất Sơn hùng vĩ, thuộc xã Văn Giáo huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, cách sông MêKông 15km về phía đông bắc và cách Campuchia 10km về phía tây bắc. Nơi đây đang là điểm du lịch hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan và nghiên cứu khoa học…
Rừng tràm Trà Sư là khu rừng còn hoang sơ, thiên nhiên quyến rũ, là đặc trưng của loại rừng ngập nước khi mùa nước nổi dâng cao. Từ rừng Trà Sư nhìn về Thất Sơn phong cảnh non xanh nước biếc hữu tình – vẻ đẹp quyến rũ và thơ mộng của thiên nhiên ban tặng. Bên này rừng là ngọn Trà Sư, phía bên kia là Núi Két, núi Bà Đội Om, Núi Cấm, xa xa thấp thoáng ngọn núi Cô Tô mây trắng chập chờn lúc ẩn lúc hiện, tạo cảm giác êm đềm và trầm mặc của thiên nhiên.
Rừng tràm Trà Sư rộng 845ha, gồm nhiều loài thực vật, với 140 loài cá, 81 loài chim muông thú rừng và bò sát. Nơi đây còn nhiều sông, rạch, lung, bàu, trũng…dấu ấn của thời khai hoang vùng đất phương Nam.

6. – Tấm bia trấn yểm ở vùng Thất Sơn huyền bí

Hiện tại, nơi hậu liêu chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thành phố Châu Đốc, An Giang có một ngôi miếu nhỏ, bên trong là một tấm bia đá cổ.
Giữa mặt bia không có chữ nhưng nơi viền mép phải có chạm dòng chữ Hán “Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc đán”, có nghĩa là “Đời nhà Thanh, Vua Càn Long năm thứ 57, vào tháng 8, mùa thu”.
Tương truyền tấm bia đó là một đạo “bùa Cao Biền” trấn yểm long mạch vùng Cửu Long của người Tàu để người Việt đời đời phụ thuộc.
Chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang còn có tên gọi khác là chùa Bài Bài, Bà Bài hoặc chùa Ông Đạo Lập. Ngôi chùa cổ ven biên giới này được ghi nhận là di tích lịch sử cách mạng thời kỳ chống Mỹ của tỉnh An Giang.
Đây là một trong những địa chỉ giao liên đầu mối quan trọng của Thị ủy Châu Đốc và là nơi ẩn quân của các đơn vị bộ đội chủ lực trước năm 1975.
Không chỉ là di tích lịch sử cách mạng mà chùa Bồng Lai còn ẩn chứa nhiều di tích tâm linh kỳ thú.
Tấm bia bằng đá sa thạch, cao khoảng 90 cm, ngang khoảng 40 cm. Giữa mặt bia có vẻ như đã từng có chữ nhưng bị đục xóa trắng. Cô Út Diệu An – người giúp việc công quả thờ phụng trong chùa Bồng Lai từ nhiều năm nay khẳng định: “Cái bia ếm này có từ khi chùa mới lập cách nay hàng thế kỷ.
Rất nhiều tài liệu khảo cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng như Nguyễn Văn Hầu, Trần Văn Quế, Huỳnh Minh đều ghi nhận: Vào khoảng năm 1850, trong một lần cùng các vị đệ tử đi viếng Thủy Đài sơn (Núi nước), Phật Thầy Tây An phát hiện dưới gốc cổ thụ có ẩn một tấm bia đá được chôn giấu từ thuở nào, đất bồi lấp gần chìm hết.
Qua những nét chữ trên bia, Phật Thầy Tây An cho rằng đó là loại “Cao Biền trấn phù bia” dùng để trấn yểm linh khí.
Trong tài liệu khảo cứu của giáo sư Nguyễn Văn Quế về Bửu Sơn Kỳ Hương và trong các di tự của tín đồ cho biết, sau khi phát hiện ra bức “Cao Biền trấn phù bia”, Phật Thầy Tây An đã sai ông Đạo Lập khai quật lên đục bỏ những chữ bùa rồi đem về chùa Bồng Lai dùng phù chú “giam” trong cái miếu.
Ông Đạo Lập dùng xích sắt có yểm phù “trói” chân đế, phần chìm dưới đất của tấm bia để đảo ngược tác dụng. Có nghĩa là vùng đất bị trấn yểm sẽ nảy sinh nhiều nhân tài. Đó là lý do, dù là bia trấn yểm nhưng các tín đồ vẫn phải hương khói hàng ngày.

7. – Bảy Núi còn là phên dậu nơi chốn biên thùy.

Vua Gia Long đã từng nói: Địa thế Châu Đốc, Hà Tiên cũng không kém Bắc Thành…
Và là nơi có vô số danh lam, thắng cảnh…
Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, có câu:
Thất Sơn, hòn dọc dãy ngang, Nói sao cho hết cả ngàn phong cương.

Giới thiệu các tuyến điểm tham quan có liên quan đến văn học

Với lịch sử phát triển lâu đời, các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ai Cập, Ả Rập, Ấn Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á đều có nhiều cảnh quan tự nhiên và kiến trúc kì vĩ, độc đáo: Vạn Lý Trường Thành (Bắc Kinh), Kim Tự Tháp (Cairo), Taj Mahal (Arga),  Angkor Wat (Seam Reap), Đá Đầu Rồng Young Duam Rock (Jeju), Đài Xuân Thu (Cao Hùng)… Đến tham quan những nơi này, du khách không chỉ mãn nhãn với cảnh trí mà còn được nghe hướng dẫn viên thuyết minh rất nhiều thần thoại, truyện cổ tích, giai thoại… có liên quan đến danh lam thắng cảnh.

Ai đã từng đi Campuchia, từng choáng ngợp trước kỳ quan thế giới Angkor Wat và Angkor Thom hẳn chưa thể quên các chi tiết điêu khắc trên đá, từ hình ảnh các vị thần, vua quan, binh lính, tiên nữ cho đến linh vật. Hướng dẫn viên có trách nhiệm giới thiệu các thần thoại, sự tích dựa theo các chi tiết trên đá cho du khách. Song song với tour “kinh điển” là Phnôm Pênh – Seam Reap, tour mới Sihanoukville – cao nguyên Bokor khá thu hút khách trong những năm gần đây. Chỉ trong lộ trình 4 ngày 3 đêm, du khách được nghe rất nhiều câu chuyện có liên quan đến các điểm tham quan như: sự tích Bà Ya Mao tìm chồng, truyền thuyết Chùa Năm Thuyền kể về công đức của hoàng tử Preah Thom và công chúa Thủy Cung Nagani trong việc tạo lập nền văn minh Khmer…

Người Hàn Quốc thường hay kể nhiều truyền thuyết thú vị cho du khách để quảng bá về đất nước của họ. Jeju không phải là địa danh có quá nhiều cảnh đẹp nhưng người Hàn Quốc đã “thêu dệt” nên thần thoại về đá đầu rồng Youngduam rất nổi tiếng: một con rồng đã lấy cắp một viên ngọc quý của  thần núi  Hanllasan rồi  bay lên trời trốn. Thần núi tức giận, lấy cung tên bắn chết con rồng. Xác của con rồng rơi xuống biển, đầu trồi lên bờ và hóa thành đá đầu rồng Youngduam Rock như ngày nay. Ngay cả ở điểm tham quan rất đỗi bình thường như làng dân tộc ở đảo Jeju, hướng dẫn địa phương cũng sẵn sàng kể cho khách nghe sự tích vì sao đàn ông được yêu quý, chiều chuộng ở hòn đảo này, từ đó hướng du khách sang việc mua cao ngựa, mật ong để bồi bổ cho các quý ông.

Một trong những hoạt động “đinh” của một tour du lịch là mua sắm. Du khách thường rất quan tâm đến các sản phẩm lưu niệm, thực phẩm mang đặc trưng của địa phương tham quan. Vì lẽ đó, những người làm du lịch đã chuẩn bị sẵn những câu chuyện làm quà cho du khách.

Kiyomizu-dera (chùa Thanh Thủy) có điện thờ thần Okuninushi – một vị thần có chức năng xe duyên. Trong sân điện này, có hai tảng đá nhỏ đặt cách nhau khoảng 20 mét, tượng trưng cho nam và nữ. Ai muốn cầu duyên thì cứ sờ vào tảng đá “khác giới” với mình, lòng nghĩ hoặc miệng đọc tên người mình yêu rồi nhắm mắt đi tìm tảng đá “cùng giới” còn lại. Nếu may mắn tìm thấy thì nhất định tình yêu sẽ đến. Ngay cạnh cặp đá là cửa hàng nhỏ bán các loại bùa may mắn với vô số chức năng: bùa tình yêu, bùa công danh, bùa học hành, bùa làm ăn, bùa sức khỏe, bùa giao thông. Mỗi loại có màu sắc, hình ảnh, kích thước khác nhau, giá từ 5000 đến 10000 yên (100.000 đến 200.000 đồng) và rất đắt người mua.

Mèo tài Nhật Maneki Neko là một món quà lưu niệm đầy chất văn hóa Nhật lại giàu ý nghĩa. Trước khi đưa khách đến các cửa hàng lưu niệm, hướng dẫn viên thường kể câu chuyện được truyền miệng cách đây bốn thế kỉ, vào thời thời Edo (1603-1867) tại ngôi đền Gotokuji: có một vị thầy tu nghèo khổ trong ngôi đền nhỏ ở phía tây Tokyo. Ông nuôi một con mèo, đặt tên là Tama và rất thương yêu chú. Một hôm, ông nói nựng với con mèo rằng: “Nếu biết ơn tao, hãy giúp ngôi đền trở nên khang trang hơn nhé!”. Thế rồi, vào một buổi chiều mùa hè, có một nhóm samurai vào chùa. Họ cho biết khi đang đứng gần đền thì thấy chú mèo vẫy tay gọi, bèn tiến vào chùa. Đúng lúc ấy, một tia chớp giáng xuống cái cây họ vừa đứng trước đó khiến cây đổ gục. Quá vui mừng vì thoát chết, các samurai đã quyên góp tiền xây dựng lại ngôi đền thật khang trang. Khi Tama chết, chú được chôn trong nghĩa địa dành cho loài mèo bên trong đền. Bức tượng Maneki Neko được làm để tưởng nhớ chú mèo đặc biệt cũng ra đời từ lúc đó.

Vừa được nghe kể chuyện, du khách vừa được giải thích ý nghĩa các động tác, tư thế vẫy tay hoặc vẫy chân của mèo và nét mặt cũng như màu sắc của nó. Nhờ vậy, du khách có thể quyết định sẵn mình sẽ mua chú mèo như thế nào tại nơi bán. Tương tự như vậy, du khách đến lầu phong thủy ở Bắc Kinh sẽ được nghe người bán hàng kể các câu chuyện cổ có liên quan đến vật phẩm phong thủy mang lại may mắn như tỳ hưu, kì lân, thiềm thừ, bắp cải…, được tư vấn kích cỡ, màu sắc cho phù hợp với bản mệnh.

Có khi, sự truyền tải các câu chuyện không chỉ dừng ở mức độ trần thuật. Nhiều điểm tham quan còn ứng dụng công nghệ quảng bá vô cùng hiện đại và khoa học, tạo hứng khởi và sự hài lòng cho du khách. Trung tâm bánh dứa Đài Bắc là một ví dụ cụ thể. Khi đến mua sắm ở đây, du khách được đưa vào lớp học làm bánh dứa. Mỗi khay bánh do du khách làm đều có đánh số và được chuyển vào lò nướng. Sau đó, khách được đưa lên một thang máy có mô hình quả dứa khổng lồ, tỏa ra mùi dứa rất ngọt ngào. Lên hết phần thang máy, khách được yêu cầu xếp hàng một và đèn bỗng tắt tối om. Một màn hình với chiều dài khoảng 6 mét, chiều rộng 1,5 mét bật sáng ở phía đối diện. Bộ phim hoạt hình Quả dứa tiên (có phụ đề tiếng Anh) được trình chiếu trong khoảng năm phút, nội dung nói về việc vì sao quả dứa từ trời chọn hòn đảo này làm nơi sinh sống. Phần hình ảnh đẹp mắt, âm nhạc rộn rã của bộ phim đủ sức chinh phục cả người lớn lẫn trẻ em. Tiếp đó, du khách được ăn thử bánh dứa vừa nướng còn nóng hổi. Tiết mục tiếp theo là trở lại showroom ở tầng trệt mua sản phẩm. Cuối buổi tham quan mua sắm, nhân viên sẽ phát tặng du khách phần bánh do họ làm đã được nướng xong.

Cũng ở Đài Loan, trước khi tự tay mình ghi các ước nguyện và thả đèn trời ở phố cổ Thập Phần (Shifen old town) và mua đèn lồng đủ kích cỡ để lưu niệm, du khách sẽ được nghe truyền thuyết: vào thời xưa, ngôi làng cổ này thường bị cướp tấn công. Sau mùa vụ, người dân phải mang của cải lên núi để trốn tránh. Những người đàn ông khỏe mạnh sẽ được cử xuống làng để thăm dò tình hình. Khi thấy mọi sự yên ắng, họ thả đèn lên trời làm tín hiệu để báo cho người dân quay về làng. Cùng với truyền thuyết này, du khách còn được nghe kể về các phát minh của Gia Cát Lượng: đèn trời, chiến xa, nỏ liên châu, bánh bao…

phố cổ thập phần

Cứ thế, những buổi thuyết trình, kể chuyện rất hiệu nghiệm trong việc tăng niềm tin, sự vui thú cho khách hàng. Du khách có thể chi khá nhiều cho các vật phẩm, dịch vụ mà vẫn thấy vui vẻ vì cho rằng mình đang rước tài lộc về nhà.

Nét văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội của cộng đồng người Chăm ở An Giang

Về ăn, uống:  Lương thực chính của người Chăm là gạo. Cũng  như  các  gia đình khác ở đồng bằng sông Cửu Long, người Chăm chế biến  gạo  thành  cơm, cháo, bún, bánh… để ăn hàng ngày. Người Chăm đặc biệt thích gia vị cay, béo để chế biến thức ăn và có những món ăn hết sức độc đáo đó là các món càri bò, càri trâu, càri dê, cơm nị, tung lò mò,… Món Càri được xem là món khoái khẩu và là một trong những niềm tự hào của người Chăm. Bánh Hatpaychal tức “bánh tổ chim” là một đặc sản của người Chăm với những sợi bột  mõng mảnh  tạo thành một khối tròn rất đẹp mắt. Về vấn đề kiêng cữ trong ăn uống, người Chăm ở An Giang cử ăn thịt heo, chó, khỉ, rùa,  rắn, mèo,  chuột, những  con  chim bay mà dùng chân quắp mồi (quạ,  diều  hâu, kênh kênh…). Riêng những gia súc, gia cầm, các loại chim ăn được nhưng phải đọc kinh Coran để cắt cổ  trước khi giết như bò, dê, cừu, gà, vịt…Về uống, người Chăm ở An Giang rất thích uống trà. Theo họ, trà không những thơm ngon mà còn  có  lợi cho  sức khỏe. Rượu là thức uống bị cấm. Trong ăn uống, thói quen ăn bốc đã được thay đổi, thức ăn, nước uống được nấu chín và đun sôi cẩn thận.

Về trang phục: Đàn ông thường mặc xà-rông, áo sơ mi, dùng mũ Kapeak. Những người già có loại áo Chêva (kiểu áo cộc) màu  trắng còn có tên  là  áo  Java. Những người có chức sắc tôn giáo còn có áo Achuba trắng thân áo  dài  chấm gót, xà-rông trắng, đội khăn Hadji trắng. Phụ nữ thường quấn khăn the mỏng. Ngày lễ, họ mặc mặc áo dài “Tăk” và váy truyền thống. Váy phải phủ kín chân. Có ba loại: váy kah dùng cho phụ nữ lớn tuổi; váy kek (pteh); váy pa thuôm là loại váy cổ chỉ có ở lớp người khá  giả. Khi  cầu nguyện bên  ngoài  hàng hiên Thánh đường, phụ nữ mặc áo trăng chui đầu, che kín  từ  đầu  đến  chân, chỉ chừa khuôn mặt nên trông chị em rất “huyền bí”.

Về nhà ở: Nhà quay mặt ra sông hoặc quay ra lộ, ít nhà có hàng rào và thường là nhà sàn. Kiểu dáng hình chữ Y có cửa cái và cửa sổ  hai bên. Trong  nhà, không có bàn thờ để thờ tổ tiên, ông bà hay đức thánh Allah; những kinh sách quí như kinh Coran và kỷ vật của ông bà, cha mẹ qua đời, người Chăm chỉ làm những cái kệ treo ở trên cao, sát vách nhà để cất giữ trên ấy. Khi xây cất, người Chăm không coi ngày, coi  hướng và cúng kiếng gì  cả. Nguyên tắc khi  làm nhà lớn, trước lúc dựng cột, dưới mỗi cây cột đều phải để vài ba hột đậu xanh, hột bầu trái dài, người giàu có  để thêm một ít vàng, rồi dựng cột đè lên    với hàm ý mát mẽ và thuận lợi cho gia đình sống, làm ăn.

Về tín ngưỡng, tôn giáo: Cộng đồng Chăm ở An Giang là tín đồ của Hồi giáo Islam. Đối với người Chăm Islam, tôn giáo trở thành nhân tố chi phối mọi hoạt động văn hóa, các phong tục, tập quán và sinh hoạt đời sống hàng ngày.    Tín đồ đạo Islam luôn giữ gìn nghiêm ngặt những qui định về giáo lý, giáo luật của  Hồi giáo chính thống, thể hiện qua  việc thực hành nghiêm túc “năm tín  điều” cơ bản (hay còn gọi là năm nghiêm luật). Họ phải nghiêm  chỉnh chấp  hành, thực hiện đầy đủ  năm tín điều trong suốt cuộc đời mình mới được coi là   tín đồ trung thành của Giáo hội Hồi giáo và của Đức thánh Allah. Đó là các tín điều: Kalimah Sahadat, Sămbahyăng, tháng Thánh lễ Ramadan (tháng nhịn ăn hay ăn chay), Roya Fitri (đại lễ xả chay), lễ Joji Hadji. Ngoài ra, người Chăm Islam còn thực hiện một số lễ tục  trong giai đoạn thành niên:  Tục cắt da  quy  đầu (Khotanh) chứng nhận người nam đã đến tuổi thành niên và tục cấm cung (Gasâm) khi thiếu nữ đến tuổi dậy thì.

Về hôn nhân: Người Chăm coi sự độc thân như là điều tội lỗi. Gia đình người Chăm ở An  Giang là  gia đình phụ quyền. Giáo luật qui  định, những người chưa làm đám cưới mà ăn  ở  với  nhau dẫn đến có thai mới làm đám cưới thì con của họ sau này sẽ không được làm chủ hôn trong gia đình có đám cưới. Bởi vì, đó là đứa con ngoài giá thú, không phải là đứa con của người cha mà là đứa con của người mẹ. Khi kết hôn, người Chăm vẫn giữ các nguyên tắc cơ bản sau: Cô dâu chú rể là những người trưởng thành và có đủ trí khôn; bắt buộc hôn  lễ phải được sự chấp thuận của cha vợ và chú rể (biểu hiện của chế độ phụ  quyền); phải trao đủ số tiền đồng cho cô dâu;…

Về nghệ thuật: Người Chăm An giang rất có năng khiếu về ca hát múa. Nhiều đội văn nghệ được thảnh lập, tham gia hát múa phục vụ bà con trong các dịp lễ hội hoặc tham gia thi diễn các nơi và đã mang về hàng chục chiếc huy chương vàng, huy chương bạc và nhiều bằng khen từ các hội diễn ca múa nhạc . Một loại hình âm nhạc mang đậm tính nhân đạo gọi là Rija hay múa nghi  lễ. Nét đẹp của Rija thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa, nhịp nhàng của các sự kiện lịch sử  với nghi lễ  truyền thống, và sự  kết hợp giữa ca hát với nhảy múa. Đối  với người Chăm, Rija là biểu tượng không thể tách rời khỏi nghệ thuật trong     đời sống văn hóa tinh thần. Múa Chăm rất phong phú và độc đáo. Những điệu múa cổ xưa thường được trình diễn trong các lễ hội. Múa quạt là điệu múa phổ thông của người Chăm, khi múa các vũ nữ dùng quạt làm đạo cụ để biểu diễn những loại múa khác nhau. Ngoài ra, còn có các điệu múa đặc sắc như:  múa  trống Paranưng, múa đoa pụ (đội bình nước trên đầu),… Người Chăm ở An  Giang dùng nhiều loại nhạc cụ, trong đó có các nhạc cụ cổ truyền phổ biến của dân tộc Chăm như đàn Kani, đàn Tapăp, kèn Saranay, kèn Rakle.

Về lễ hội: Người Chăm có nhiều ngày lễ lớn trong năm

Chúng tôi sẽ viết về các lễ hội của người Chăm tại An Giang trong một bài viết riêng để các bạn theo dõi.

Về tang lễ, ma chay:  Khi có người hấp hối, bà con lân cận đến để cùng  đọc kinh cầu cho linh hồn người chết bình thản rời khỏi cõi đời. Khi bệnh nhân  tắt thở, người nhà sẽ dùng tay thấm nước sạch vuốt mặt người chết. Thông thường, người chết được chôn trong ngày. Nếu chết buổi sáng thì chôn vào buổi chiều; nếu chết buổi tối thì sáng hôm sau chôn. Nghi thức tang lễ của người  Chăm theo đạo Islam ở An Giang được thực hiện theo bốn bước sau: Thứ nhất, tắm rửa sạch sẽ; thứ hai, bó tử thi cho kín toàn thân bằng vải trắng sạch; thứ ba, mọi người khiêng tử thi để trong “Madu” (là một tấm ván có mui cong để tử thi nằm) và khiêng tử thi đem đến Thánh đường làm lễ; thứ tư, đem chôn tử  thi.  Buổi tối ngày chôn cất, bạn bè người thân của tang chủ đến nhà tang chủ để cầu nguyện. Việc cầu nguyện như thế sẽ diễn ra trong ba đêm liền. Sau đó, người ta còn cầu nguyện vào các đêm thứ 7, thứ 10, thứ 40, thứ 100 và một lần nữa vào đúng 1 năm kể từ lúc người mất. Một điều đặc biệt trong  đám tang của cộng  đồng người Chăm ở An Giang là người thân không được khóc lóc, kể lể, nếu có cảm động thì có thể rơi một ít nước mắt, tuyệt đối không thờ cúng tử thi, không lạy và cũng không đốt nhang. Nghi thức tang lễ của người Chăm thực hiện nghiêm trang, gọn gàng, chu đáo, vệ sinh, văn  minh, tiết kiệm thể hiện tình  làng nghĩa xóm.

An Giang: Bắt 1 đối tượng trong nhóm cướp giật, tấn công du khách tại chùa Lầu

Sau nhiều ngày truy lùng, lực lượng Công an tỉnh An Giang đã bắt được 1 đối tượng trong nhóm cướp giật, tấn công du khách ngày 23.2 tại chùa Lầu (TT.Tịnh Biên, H.Tịnh Biên).
Việc vào cuộc quyết liệt và tìm bắt được đối tượng cướp giật ở các khu du lịch tại An Giang cũng làm cho du khách yên tâm. Đây là một thành tích đáng ghi nhận của Công An tỉnh.
Đối tượng cầm gạch gây thương tích cho anh Hòa hôm 23.2

Chiều ngày 1.3, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an H.Tịnh Biên, tỉnh An Giang cho hay, đơn vị đã ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Văn Trường (19 tuổi) ngụ ấp Châu Giang, xã Châu Phong, TX.Tân châu (An Giang) để tiếp tục điều tra, làm rõ về hành vi cố ý gây thương tích xảy ra tại chùa Lầu ngày 23.2.
Kết quả điều tra ban đầu, vào trưa 23.2, anh Huỳnh Công Hòa (41 tuổi, ngụ TP Châu Đốc) và chị Nguyễn Thị Tuyết Nga (36 tuổi, ngụ H.Tịnh Biên) cùng 3 người bạn đến chùa Phước Lâm (còn gọi là chùa Lầu, thuộc khóm Xuân Phú, TT.Tịnh Biên, H.Tịnh Biên) để tham quan, cúng viếng. Trong lúc chị Nga đứng chụp hình tại khu vực khuôn viên chùa thì bị nhóm khoảng 10 nam, nữ lạ mặt đứng xung quanh, xô đẩy.
Sau đó, 1 đối tượng trong nhóm này đã giật lấy sợi dây chuyền vàng trắng (trọng lượng 7 chỉ, trị giá khoảng 20 triệu đồng) của chị Nga đang đeo trên cổ. Khi chi Nga quay lại thì thấy 1 phụ nữ khoảng 30 tuổi đứng gần và nghi ngờ người này đã giật dây chuyền nên dùng tay túm áo người phụ nữ này và đôi bên xảy ra cự cãi.

Nhìn thấy sự việc, anh Hòa tiến lại gần thì bị 1 thanh niên lạ mặt cầm gạch ống đánh và ném vào người, gây thương tích ở vùng đầu phải khâu 7 mũi và xây xát vùng trán. Chị Nga cũng bị nhóm này dùng vật cứng đánh bị thương khâu 8 mũi ở đầu và bầm tím mắt trái.
Sau đó các đối tượng đã nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Toàn bộ sự việc được người dân chứng kiến và quay clip đưa lên mạng xã hội Facebook, khiến dư luận vô cùng phẫn nộ.
Qua xác minh thông tin của các nạn nhân cung cấp, đến ngày 24.2 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an H.Tịnh Biên đã ra quyết định khởi tố vụ án cướp giật tài sản, cố ý gây thương tích và gây rối trật tự nơi công cộng để tiếp tục điều tra và truy lùng nhóm đối tượng gây ra.
Công an H.Tịnh Biên thông tin, đây là nhóm đối tượng chuyên đi cướp giật, trộm cắp tài sản của du khách tại các lễ hội, gồm có khoảng 10-12 đối tượng, ngụ ở các huyện trong và ngoài tỉnh An Giang, lực lượng đã xác định bí danh các đối tượng này.
Sau nhiều ngày lẩn trốn, đến ngày 28.2 đối tượng Nguyễn Văn Trường đã bị Công an H.Tịnh Biên bắt giữ, để điều tra làm rõ về hành vi cố ý gây thương tích.
Hiện, các lực lượng Công an tỉnh An Giang đang truy tìm các đối tượng còn lại.

Du lịch An Giang ghé chơi những lễ hội của người Chăm

Về lễ hội: Người Chăm có nhiều ngày lễ lớn trong năm. Lễ hội của người chăm vô cùng đặc sắc và đậm đà những nét truyền thống có từ lâu đời.

Lâm viên Núi Cấm sẽ cùng bạn điểm qua những lễ lớn của người Chăm ở An Giang

  • Ngày 10 tháng Giêng Hồi lịch được gọi là tháng Muharram (một năm có 12 tháng, 6 tháng có 30 ngày, 6 tháng có 28 ngày). Các gia đình ăn chay hai ngày, làm lễ cầu nguyện tại Thánh đường và tặng quà cho người nghèo. Nhưng hiện nay chủ yếu là tặng quà cho trẻ em nên các em coi đây là ngày Tết của mình.
  • Tháng hai Hồi lịch, gọi là tháng Safar, là lễ cầu an được cử hành vào ngày thứ tư tuần lễ cuối của tháng. Đồng bào Chăm cũng đến Thánh đường cầu nguyện cho quốc thái dân an.
  • Lễ sinh nhật Muhamed: Ngày 12 tháng 3 Hồi lịch, tổ chức tại các Thánh đường rất trang trọng.
  • Lễ Giáo chủ Thăng thiên (Miarai) tháng 7 Hồi lịch.
  • Tháng 8 Hồi lịch (tháng Shaban) có lễ đại xá, được bắt đầu từ ngày rằm đến cuối tháng. Đây là tiệc giỗ hàng năm của dân tộc Chăm. Đồng bào Chăm thường tổ chức trọng thể ở các Thánh đường.
  • Bên cạnh đó, người Chăm còn có một số lễ hội nổi bật, khá hấp dẫn, mang đậm bản sắc dân tộc và tôn giáo, đó là “Lễ Ramadan” và “Lễ tết Roya Fitri”. Tháng Thánh lễ Ramadan bắt đầu từ mùng 1 tháng 9 đến hết 30 tháng 9
  • Hồi lịch mỗi năm. Khi bước vào ngày đầu tiên của tháng nhịn chay tức là vào ngày 1 tháng 9 Hồi lịch, người Chăm bắt đầu nhịn chay từ rạng đông (khoảng 6 giờ sáng) cho đến hết mặt trời lặn (khoảng 18 giờ) đều không được ăn, uống, cãi vã, quan hệ tình dục. Trong và sau tháng này những người có của phải thực hiện nghĩa vụ bố thí cho người nghèo nhằm giảm bớt sự cách biệt giàu nghèo. Lễ Tết Roya Fitri diễn ra trong ba ngày, từ ngày 01 đến ngày 03 tháng 10 Hồi lịch (sau tháng chay Ramadan) được coi là ngày tết của người Chăm. Họ đi chúc mừng nhau, xin xóa tội, hòa giải với nhau… Đặc biệt là khoảng từ ngày 29 – 30 đến hừng sáng ngày Tết, bắt buộc mọi người phải bố thí bằng tiền hoặc hiện vật cho người nghèo để họ cũng được niềm vui chung ngày tết. Trong dịp này, những gia đình khá giả sẽ dành ít tiền của cho những người nghèo khó, giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn. Họ quan niệm rằng, những gì họ có được đều do thánh Allah ban cho, vì vậy họ phải có nghĩa vụ bố thí, giúp đỡ người nghèo khó, điều đó giúp họ làm ăn tốt hơn trong năm mới.

Qua khái quát một số nét văn hóa của cộng đồng dân tộc Chăm ở An Giang, ta thấy hai yếu tố chi phối mọi mặt của đời sống xã hội là: Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tôn giáo Hồi Islam. Hòa vào dòng phát triển chung của văn hóa Việt nam và khu vực, cộng đồng Chăm ở An Giang đã bảo lưu nhiều phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc  mình, đồng thời hạn chế và xóa bỏ những mặt tiêu cực, không phù hợp với pháp luật và nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Các nghi lễ, tập tục của lễ hội được tiến hành đơn giản, nhẹ nhàng trên tinh thần “trọng thể,  vui  tươi,  an  toàn,  tiết kiệm”.

Văn hóa các dân tộc thiểu số là  tài sản vô giá. Bảo tồn, giữ gìn và phát  triển các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số là một trong những chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan quan tâm và coi đó là nội dung quan  trọng trong thực hiện chính sách dân tộc. Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt văn hóa, xã hội mà có ý  nghĩa về mặt  chính trị, kinh tế, giáo dục,…và thậm chí cả an ninh và quốc phòng. Cộng đồng người Chăm ở  An Giang có  ý  thức khá  tốt trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc riêng trong nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng”. Bản sắc đó đã hòa quyện và phát triển theo dòng lịch sử đấu tranh hào hùng của cộng đồng dân tộc anh em ở  Đồng bằng  sông Cửu Long và góp  phần không nhỏ cho  bức  tranh tươi đẹp của vùng đất  mới “chín rồng” như ngày nay.  Bảo tồn  và phát huy những cái  đẹp trong bản  sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc Chăm ở An Giang trong giai đoạn hiện nay   là một việc làm quan trọng và lâu dài. Bảo tồn không phải chỉ thụ động, co thủ   để bảo vệ nét đẹp của văn hóa cộng đồng dân tộc mình mà còn phải tích cực hội nhập, giao thoa với các nền văn hóa khác, tiếp nhận và tích hợp chúng để tạo ra những giá trị văn hóa mới. Ở  Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều dân tộc có bề  dày lịch sử và văn hóa cùng cộng cư; do  tính cách phóng khoáng, dễ tiếp nhận cái mới của người Nam bộ; do qui  luật tiếp biến văn hóa và tư duy tổng hợp,  biện chứng của ngưởi Việt Nam [5;13]; việc giao thoa, kết hợp những nét đẹp   của các dân tộc để hình thành thêm những giá trị mới, chung cho vùng là con đường tất yếu. Trong vườn hoa có nhiều loài hoa cùng chung sống chắc chắn sẽ có sự pha trộn làm xuất hiện những giống hoa với màu sắc mới./.