Author Archives: Thanh Nguyen

Giới thiệu các tuyến điểm tham quan có liên quan đến văn học

Với lịch sử phát triển lâu đời, các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ai Cập, Ả Rập, Ấn Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á đều có nhiều cảnh quan tự nhiên và kiến trúc kì vĩ, độc đáo: Vạn Lý Trường Thành (Bắc Kinh), Kim Tự Tháp (Cairo), Taj Mahal (Arga),  Angkor Wat (Seam Reap), Đá Đầu Rồng Young Duam Rock (Jeju), Đài Xuân Thu (Cao Hùng)… Đến tham quan những nơi này, du khách không chỉ mãn nhãn với cảnh trí mà còn được nghe hướng dẫn viên thuyết minh rất nhiều thần thoại, truyện cổ tích, giai thoại… có liên quan đến danh lam thắng cảnh.

Ai đã từng đi Campuchia, từng choáng ngợp trước kỳ quan thế giới Angkor Wat và Angkor Thom hẳn chưa thể quên các chi tiết điêu khắc trên đá, từ hình ảnh các vị thần, vua quan, binh lính, tiên nữ cho đến linh vật. Hướng dẫn viên có trách nhiệm giới thiệu các thần thoại, sự tích dựa theo các chi tiết trên đá cho du khách. Song song với tour “kinh điển” là Phnôm Pênh – Seam Reap, tour mới Sihanoukville – cao nguyên Bokor khá thu hút khách trong những năm gần đây. Chỉ trong lộ trình 4 ngày 3 đêm, du khách được nghe rất nhiều câu chuyện có liên quan đến các điểm tham quan như: sự tích Bà Ya Mao tìm chồng, truyền thuyết Chùa Năm Thuyền kể về công đức của hoàng tử Preah Thom và công chúa Thủy Cung Nagani trong việc tạo lập nền văn minh Khmer…

Người Hàn Quốc thường hay kể nhiều truyền thuyết thú vị cho du khách để quảng bá về đất nước của họ. Jeju không phải là địa danh có quá nhiều cảnh đẹp nhưng người Hàn Quốc đã “thêu dệt” nên thần thoại về đá đầu rồng Youngduam rất nổi tiếng: một con rồng đã lấy cắp một viên ngọc quý của  thần núi  Hanllasan rồi  bay lên trời trốn. Thần núi tức giận, lấy cung tên bắn chết con rồng. Xác của con rồng rơi xuống biển, đầu trồi lên bờ và hóa thành đá đầu rồng Youngduam Rock như ngày nay. Ngay cả ở điểm tham quan rất đỗi bình thường như làng dân tộc ở đảo Jeju, hướng dẫn địa phương cũng sẵn sàng kể cho khách nghe sự tích vì sao đàn ông được yêu quý, chiều chuộng ở hòn đảo này, từ đó hướng du khách sang việc mua cao ngựa, mật ong để bồi bổ cho các quý ông.

Một trong những hoạt động “đinh” của một tour du lịch là mua sắm. Du khách thường rất quan tâm đến các sản phẩm lưu niệm, thực phẩm mang đặc trưng của địa phương tham quan. Vì lẽ đó, những người làm du lịch đã chuẩn bị sẵn những câu chuyện làm quà cho du khách.

Kiyomizu-dera (chùa Thanh Thủy) có điện thờ thần Okuninushi – một vị thần có chức năng xe duyên. Trong sân điện này, có hai tảng đá nhỏ đặt cách nhau khoảng 20 mét, tượng trưng cho nam và nữ. Ai muốn cầu duyên thì cứ sờ vào tảng đá “khác giới” với mình, lòng nghĩ hoặc miệng đọc tên người mình yêu rồi nhắm mắt đi tìm tảng đá “cùng giới” còn lại. Nếu may mắn tìm thấy thì nhất định tình yêu sẽ đến. Ngay cạnh cặp đá là cửa hàng nhỏ bán các loại bùa may mắn với vô số chức năng: bùa tình yêu, bùa công danh, bùa học hành, bùa làm ăn, bùa sức khỏe, bùa giao thông. Mỗi loại có màu sắc, hình ảnh, kích thước khác nhau, giá từ 5000 đến 10000 yên (100.000 đến 200.000 đồng) và rất đắt người mua.

Mèo tài Nhật Maneki Neko là một món quà lưu niệm đầy chất văn hóa Nhật lại giàu ý nghĩa. Trước khi đưa khách đến các cửa hàng lưu niệm, hướng dẫn viên thường kể câu chuyện được truyền miệng cách đây bốn thế kỉ, vào thời thời Edo (1603-1867) tại ngôi đền Gotokuji: có một vị thầy tu nghèo khổ trong ngôi đền nhỏ ở phía tây Tokyo. Ông nuôi một con mèo, đặt tên là Tama và rất thương yêu chú. Một hôm, ông nói nựng với con mèo rằng: “Nếu biết ơn tao, hãy giúp ngôi đền trở nên khang trang hơn nhé!”. Thế rồi, vào một buổi chiều mùa hè, có một nhóm samurai vào chùa. Họ cho biết khi đang đứng gần đền thì thấy chú mèo vẫy tay gọi, bèn tiến vào chùa. Đúng lúc ấy, một tia chớp giáng xuống cái cây họ vừa đứng trước đó khiến cây đổ gục. Quá vui mừng vì thoát chết, các samurai đã quyên góp tiền xây dựng lại ngôi đền thật khang trang. Khi Tama chết, chú được chôn trong nghĩa địa dành cho loài mèo bên trong đền. Bức tượng Maneki Neko được làm để tưởng nhớ chú mèo đặc biệt cũng ra đời từ lúc đó.

Vừa được nghe kể chuyện, du khách vừa được giải thích ý nghĩa các động tác, tư thế vẫy tay hoặc vẫy chân của mèo và nét mặt cũng như màu sắc của nó. Nhờ vậy, du khách có thể quyết định sẵn mình sẽ mua chú mèo như thế nào tại nơi bán. Tương tự như vậy, du khách đến lầu phong thủy ở Bắc Kinh sẽ được nghe người bán hàng kể các câu chuyện cổ có liên quan đến vật phẩm phong thủy mang lại may mắn như tỳ hưu, kì lân, thiềm thừ, bắp cải…, được tư vấn kích cỡ, màu sắc cho phù hợp với bản mệnh.

Có khi, sự truyền tải các câu chuyện không chỉ dừng ở mức độ trần thuật. Nhiều điểm tham quan còn ứng dụng công nghệ quảng bá vô cùng hiện đại và khoa học, tạo hứng khởi và sự hài lòng cho du khách. Trung tâm bánh dứa Đài Bắc là một ví dụ cụ thể. Khi đến mua sắm ở đây, du khách được đưa vào lớp học làm bánh dứa. Mỗi khay bánh do du khách làm đều có đánh số và được chuyển vào lò nướng. Sau đó, khách được đưa lên một thang máy có mô hình quả dứa khổng lồ, tỏa ra mùi dứa rất ngọt ngào. Lên hết phần thang máy, khách được yêu cầu xếp hàng một và đèn bỗng tắt tối om. Một màn hình với chiều dài khoảng 6 mét, chiều rộng 1,5 mét bật sáng ở phía đối diện. Bộ phim hoạt hình Quả dứa tiên (có phụ đề tiếng Anh) được trình chiếu trong khoảng năm phút, nội dung nói về việc vì sao quả dứa từ trời chọn hòn đảo này làm nơi sinh sống. Phần hình ảnh đẹp mắt, âm nhạc rộn rã của bộ phim đủ sức chinh phục cả người lớn lẫn trẻ em. Tiếp đó, du khách được ăn thử bánh dứa vừa nướng còn nóng hổi. Tiết mục tiếp theo là trở lại showroom ở tầng trệt mua sản phẩm. Cuối buổi tham quan mua sắm, nhân viên sẽ phát tặng du khách phần bánh do họ làm đã được nướng xong.

Cũng ở Đài Loan, trước khi tự tay mình ghi các ước nguyện và thả đèn trời ở phố cổ Thập Phần (Shifen old town) và mua đèn lồng đủ kích cỡ để lưu niệm, du khách sẽ được nghe truyền thuyết: vào thời xưa, ngôi làng cổ này thường bị cướp tấn công. Sau mùa vụ, người dân phải mang của cải lên núi để trốn tránh. Những người đàn ông khỏe mạnh sẽ được cử xuống làng để thăm dò tình hình. Khi thấy mọi sự yên ắng, họ thả đèn lên trời làm tín hiệu để báo cho người dân quay về làng. Cùng với truyền thuyết này, du khách còn được nghe kể về các phát minh của Gia Cát Lượng: đèn trời, chiến xa, nỏ liên châu, bánh bao…

phố cổ thập phần

Cứ thế, những buổi thuyết trình, kể chuyện rất hiệu nghiệm trong việc tăng niềm tin, sự vui thú cho khách hàng. Du khách có thể chi khá nhiều cho các vật phẩm, dịch vụ mà vẫn thấy vui vẻ vì cho rằng mình đang rước tài lộc về nhà.

An Giang miền sông nước

An Giang là một trong hai tỉnh đầu nguồn sông Mêkong (phần Việt Nam) theo hai nhánh sông Tiền và sông Hậu song song suốt từ bắc tới nam trên 99km, lưu lượng trung bình năm của hệ thống sông này là 13.500 m3/s, lưu lượng mùa lũ 24.000 m3/s và mùa cạn 5.020 m3. Hệ thống sông lớn chảy qua, nhiều rạch tự nhiên và kênh đào tạo thành một mạng lưới giao thông, thủy lợi khá chằng chịt có 280 tuyến với mật độ chung là 1,72 km/km2 là thuộc mức cao nhất so với các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long .

Các con sông chính ở An Giang

Sông Tiền và sông Hậu là hai nhánh sông lớn của hạ lưu sông Mêkong trước khi đổ ra biển Đông.
• Sông Tiền chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đoạn chảy qua An Giang dài 82 km, lòng sông chổ rộng nhất tới hơn 2000 m ở phía trên sông Vàm Nao.
• Sông Hậu chảy song song với sông Tiền. Đoạn chảy qua An Giang dài 101km, lòng sông chổ rộng nhất từ 800- 2000m. Sông Hậu là tuyến giao thông thủy quan trọng, là nguồn cung cấp nước và phù sa cho Tứ Giác Long Xuyên.
Lưu lượng trung bình năm của hai sông là gồm 14 nghìn m3/s; Trong đó mùa lũ là 24nghìn m3/s và mùa cạn là 5 nghìn m3/s.
• Sông Vàm Nao nằm gọn trong địa bàn tỉnh An Giang, chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, chiều dài 7 km, nối liền với sông Tiền và sông Hậu, chiều rộng sông trung bình 700 m
• Sông Bình Di, dài 10km, chảy từ Khánh Bình (An Phú) đến xã Vĩnh Hội Đông (An Phú ) rồi hội tụ với sông Tà Keo (Campuchia) và sông Châu Đốc.
Các con sông này đều chảy qua các vùng có danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, các làng nghề…tạo điều kiện hình thành loại hình du lịch trên sông.
Chế độ thủy văn của An Giang phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước sông Mêkong. Hằng năm có khoảng 70% diện tích tự nhiên bị ngập lụt với mức nước phổ biến từ 1-2,5 m, thời gian ngập từ 2,5- 4 tháng. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội.

Lũ vào Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và An Giang nói riêng theo hai con sông chính là sông Tiền và sông Hậu, thời gian đầu (tháng 6, tháng 7) nước từ hai sông chính theo các kênh trụ chảy vào đồng ruộng và lần lượt làm ngập từ thấp đến cao; Khi mực nước vượt quá +3 m, đồng thời lượng nước tràn qua biên giới Campuchia vào Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên là yếu tố chính tạo nên sự ngập lụt và hình thành “ mùa nước nổi” ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và ở An Giang nói riêng. Hàng năm có khoảng 70 % diện tích bị ngập lụt. Vào mùa lũ đem phù sa bồi đắp hàng năm, thời tiết và khí hậu mát mẽ, rất phù hợp phát triển sản xuất nông nghiệp và du lịch cũng phát triển được loại hình du lịch trên sông nước. Tuy nhiên, thiệt hại do lũ gây ra cho nhân dân cũng không nhỏ, năm 2005 có 30 người chết (trong đó có 27 trẻ em), toàn tỉnh số nhà sập và cuốn trôi 46 nhà, nhà siêu vẹo phải di dời 361 nhà, nhà tốc mái 92 nhà, số nhà ngập nước nền, sàn 876 nhà, các huyện có 1.046 ha diện tích lúa bị ngập úng gặt ép, số ao hầm nuôi trồng bị ngập 252 cái với diện tích bị ngập là 24,4 ha. Tổng chiều dài lộ giao thông nông thôn bị ngập là 106km, tổng chiều dài đường tỉnh lộ bị ngập 18 km, tổng chiều dài các đoạn đê bao bị sạt lở 18.290 m. Tổng diện tích sạt lở 60.803m2, trong đó diện tích đất nông nghiệp bị sạt lở 20.320 m2. Số hộ tiếp tục di dời là 278 hộ.
Do vậy để hạn chế sự thiệt hại do lũ lụt ở mức thấp nhất, người dân An Giang phải chấp nhận sống chung với lũ và khai thác nguồn lợi từ lũ mang đến.

Xem thêm các tin tức về tỉnh An Giang

Du lịch Núi Cấm An Giang

Những rừng Tràm nổi tiếng ở An Giang

Các kênh rạch ở miền sông nước  An Giang

Cả tỉnh có chừng 21 kênh đào như:
• Kênh thoại Hà do ông Nguyễn Văn Thoại đào năm 1818. Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, tiếp nối với sông Kiên Giang, đổ nước ra biển Tây tại cửa Rạch Giá. Kênh dài 12.410 tầm, rộng 20 tầm, ghe xuồng qua lại thuận lợi.
• Kênh Vinh Tế đào vào năm 1819 cũng do Nguyễn Văn Thoại chỉ huy. Kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam – Campuchia, bắt đầu từ bờ tây sông Châu Đốc nối giáp với sông Giang Thành (Hà Tiên – Kiên Giang). Tổng chiều dài là 205 dặm rưỡi (91km), rộng 7 trượng 5 thước (25m) và sâu 6 thước (3m)
Nói về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, Đại Nam Nhất Thống Chí viết: “Từ đấy đường sông thông việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Triều đình cho đúc Cửu Đỉnh để làm quốc bảo và tượng trưng cho sự cho sự miên viễn của Hoàng Gia, hình kênh Vĩnh Tế đã được chạm vào Cao Đỉnh.
• Kênh Vĩnh An: nhà Nguyễn cho đào kênh này vào năm 1843 để lấy nước lấy nước sông Tiền bổ sung cho sông Hậu và tạo ra trục giao thông thủy nối liền giữa Tân Châu và Châu Đốc, thông nối các vị trí quân sự, kinh tế chiến lược quan trọng của biên cương. Kênh dài 17 km, rộng 30 m và sâu 6 m.
• Kênh Trà Sư: đào vào những năm 1830-1850, để ngăn lũ núi, tháo chua rửa phèn và dẫn nước lũ phù sa phục vụ cho khai thác các cánh đồng còn hoang hóa thời bấy giờ thuộc khu vực Thới Sơn – Văn Giáo. Kênh có chiều dài 23km, rộng 10m và sâu trên 2m.
• Kênh Thần Nông đào vào năm 1882 ở huyện Phú Tân, bắt nguồn từ xã Vĩnh phú
,nối liền Kênh Vĩnh An đến rạch Cái Đầm. Kênh dài 25km, rộng 6m và sâu 3m. Dùng để tưới tiêu cho đồng ruộng.
• Kênh Vàm Xáng: do thực dân Pháp cho đào từ năm 1914 – 1918. Kênh Vàm Xáng cách kênh Vĩnh An 4km về phía thượng lưu để lấy nước sông Tiền bổ sung cho sông Hậu đồng thời tạo ra trục giao thông mới thay cho kênh Vĩnh An. Kênh này dài 9 km, rộng 100 m và sâu trên 20 m.
Ngòai ra, còn có một hệ thống kênh trục: Vàm Răng, Luỳnh Huỳnh, Vàm Rầy, Kiên Lương, Tám Ngàn, Tri Tôn , Ba Thê, Cái Sắn, Mặc Cần Dưng do Pháp xây dựng. Hệ thống kênh trục mới này có tầm quan trọng về thủy lợi khai thác vùng đất hoang hóa Tứ Giác Long Xuyên, vận tải hàng hóa, phân bố dân cư…
Năm 1975, An Giang đã đào thêm kênh 15 (nối kênh Cần Thảo với kênh Mặc Cần Dưng tại cầu sắt 15 kéo dài đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang), kênh 10 Châu Phú và kênh núi Chóc Năng Gù (trong Tứ Giác Long Xuyên), kênh 7 xã, Cà Mau, Trà Thôn, Ká Tam Bong, Ngã Cạy- kênh Tròn, kênh Mới, H7…

Các loại rạch

Ngoài các con sông lớn, các kênh thì An Giang còn có một hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp địa bàn của tỉnh với độ dài từ vài km đến 30 km, độ rộng từ vài mét đến 100m và độ uốn khúc quanh co khá lớn.
Những rạch lớn gồm: Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc (Phú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (Chợ Mới), Long Xuyên (Thành Phố Long Xuyên), Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng (Châu Thành), rạch Cần Thảo (Châu Phú). Trong đó, quan trọng là hai rạch: Ông Chưởng và Long Xuyên khá dài, sâu và rộng hơn các rạch còn lại.
• Rạch Ông Chưởng có hình dạng uốn khúc như mình rồng, chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, dài 20 km, rộng gần 100 m và sâu 8 m. Khả năng tải nước mùa lũ ở mức 800 m3/s với tốc độ 1m/s, rạch này lấy nước sông Tiền đổ vào sông Hậu tại đỉnh Cua Cong của cù lao Mỹ Hòa Hưng.
• Rạch Long Xuyên bắt đầu từ Thành Phố Long Xuyên chảy theo hướng Đông Bắc
– Tây Nam có chiều dài gần 18 km chảy ra Biển Tây, nối với sông Kiên của Rạch Giá tỉnh Kiên Giang. Rạch Long Xuyên người dân còn gọi là kênh Rạch Giá – Long Xuyên, có độ rộng bình quân 100m và sâu 8m, có lưu lượng mùa lũ trên 300 m3/s.

Các khe suối và hồ

 Khe suối
Trong cụm núi Cấm, ở độ cao 700m, nước mưa và nước ngầm đã dồn chảy vào các suối An Hảo, hồ Ô Tuk Xa và Suối Tiên.
Cụm núi Dài với độ cao 500m có Suối Vàng, Ô Tà Sóc và khe Đá. Cụm núi Cô Tô cao trên 600m có suối Ô Thum và Ô Soài So.
 Hồ
• Hồ tự nhiên: có Búng Bình Thiên Lớn và Búng Bình Thiên nhỏ nằm giữa hai sông Bình Di và sông Hậu tại Khánh Bình (An Phú).
Hồ Nguyễn Du tại phường Mỹ Bình (Thành Phố Long Xuyên) là một nhánh xép của sông Hậu được phù sa bồi đắp tách dần ra.
• Hồ nhân tạo, ở vùng núi Tri Tôn – Tịnh Biên vào những năm 1986-1994 có hồ Soài So, Ô Tuk Xa, Cây Đuốc, nhằm cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và cải tạo môi trường sinh thái
Núi Cấm còn có hồ An Hảo ngăn dòng suối nhỏ An Hảo làm hồ.[31] Nhìn chung, nguồn nước An Giang rất dồi dào, các sông – kênh – hồ- khe suối tạo nên cảnh quan đẹp, mát mẽ, bên cạnh việc đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất của dân cư thì còn thuận lợi cho việc phát triển khu vui chơi giải trí và các điểm du lịch.

Xem thêm: du lịch tâm linh ở An Giang

Những khu vui chơi ở An Giang

Nét văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội của cộng đồng người Chăm ở An Giang

Về ăn, uống:  Lương thực chính của người Chăm là gạo. Cũng  như  các  gia đình khác ở đồng bằng sông Cửu Long, người Chăm chế biến  gạo  thành  cơm, cháo, bún, bánh… để ăn hàng ngày. Người Chăm đặc biệt thích gia vị cay, béo để chế biến thức ăn và có những món ăn hết sức độc đáo đó là các món càri bò, càri trâu, càri dê, cơm nị, tung lò mò,… Món Càri được xem là món khoái khẩu và là một trong những niềm tự hào của người Chăm. Bánh Hatpaychal tức “bánh tổ chim” là một đặc sản của người Chăm với những sợi bột  mõng mảnh  tạo thành một khối tròn rất đẹp mắt. Về vấn đề kiêng cữ trong ăn uống, người Chăm ở An Giang cử ăn thịt heo, chó, khỉ, rùa,  rắn, mèo,  chuột, những  con  chim bay mà dùng chân quắp mồi (quạ,  diều  hâu, kênh kênh…). Riêng những gia súc, gia cầm, các loại chim ăn được nhưng phải đọc kinh Coran để cắt cổ  trước khi giết như bò, dê, cừu, gà, vịt…Về uống, người Chăm ở An Giang rất thích uống trà. Theo họ, trà không những thơm ngon mà còn  có  lợi cho  sức khỏe. Rượu là thức uống bị cấm. Trong ăn uống, thói quen ăn bốc đã được thay đổi, thức ăn, nước uống được nấu chín và đun sôi cẩn thận.

Về trang phục: Đàn ông thường mặc xà-rông, áo sơ mi, dùng mũ Kapeak. Những người già có loại áo Chêva (kiểu áo cộc) màu  trắng còn có tên  là  áo  Java. Những người có chức sắc tôn giáo còn có áo Achuba trắng thân áo  dài  chấm gót, xà-rông trắng, đội khăn Hadji trắng. Phụ nữ thường quấn khăn the mỏng. Ngày lễ, họ mặc mặc áo dài “Tăk” và váy truyền thống. Váy phải phủ kín chân. Có ba loại: váy kah dùng cho phụ nữ lớn tuổi; váy kek (pteh); váy pa thuôm là loại váy cổ chỉ có ở lớp người khá  giả. Khi  cầu nguyện bên  ngoài  hàng hiên Thánh đường, phụ nữ mặc áo trăng chui đầu, che kín  từ  đầu  đến  chân, chỉ chừa khuôn mặt nên trông chị em rất “huyền bí”.

Về nhà ở: Nhà quay mặt ra sông hoặc quay ra lộ, ít nhà có hàng rào và thường là nhà sàn. Kiểu dáng hình chữ Y có cửa cái và cửa sổ  hai bên. Trong  nhà, không có bàn thờ để thờ tổ tiên, ông bà hay đức thánh Allah; những kinh sách quí như kinh Coran và kỷ vật của ông bà, cha mẹ qua đời, người Chăm chỉ làm những cái kệ treo ở trên cao, sát vách nhà để cất giữ trên ấy. Khi xây cất, người Chăm không coi ngày, coi  hướng và cúng kiếng gì  cả. Nguyên tắc khi  làm nhà lớn, trước lúc dựng cột, dưới mỗi cây cột đều phải để vài ba hột đậu xanh, hột bầu trái dài, người giàu có  để thêm một ít vàng, rồi dựng cột đè lên    với hàm ý mát mẽ và thuận lợi cho gia đình sống, làm ăn.

Về tín ngưỡng, tôn giáo: Cộng đồng Chăm ở An Giang là tín đồ của Hồi giáo Islam. Đối với người Chăm Islam, tôn giáo trở thành nhân tố chi phối mọi hoạt động văn hóa, các phong tục, tập quán và sinh hoạt đời sống hàng ngày.    Tín đồ đạo Islam luôn giữ gìn nghiêm ngặt những qui định về giáo lý, giáo luật của  Hồi giáo chính thống, thể hiện qua  việc thực hành nghiêm túc “năm tín  điều” cơ bản (hay còn gọi là năm nghiêm luật). Họ phải nghiêm  chỉnh chấp  hành, thực hiện đầy đủ  năm tín điều trong suốt cuộc đời mình mới được coi là   tín đồ trung thành của Giáo hội Hồi giáo và của Đức thánh Allah. Đó là các tín điều: Kalimah Sahadat, Sămbahyăng, tháng Thánh lễ Ramadan (tháng nhịn ăn hay ăn chay), Roya Fitri (đại lễ xả chay), lễ Joji Hadji. Ngoài ra, người Chăm Islam còn thực hiện một số lễ tục  trong giai đoạn thành niên:  Tục cắt da  quy  đầu (Khotanh) chứng nhận người nam đã đến tuổi thành niên và tục cấm cung (Gasâm) khi thiếu nữ đến tuổi dậy thì.

Về hôn nhân: Người Chăm coi sự độc thân như là điều tội lỗi. Gia đình người Chăm ở An  Giang là  gia đình phụ quyền. Giáo luật qui  định, những người chưa làm đám cưới mà ăn  ở  với  nhau dẫn đến có thai mới làm đám cưới thì con của họ sau này sẽ không được làm chủ hôn trong gia đình có đám cưới. Bởi vì, đó là đứa con ngoài giá thú, không phải là đứa con của người cha mà là đứa con của người mẹ. Khi kết hôn, người Chăm vẫn giữ các nguyên tắc cơ bản sau: Cô dâu chú rể là những người trưởng thành và có đủ trí khôn; bắt buộc hôn  lễ phải được sự chấp thuận của cha vợ và chú rể (biểu hiện của chế độ phụ  quyền); phải trao đủ số tiền đồng cho cô dâu;…

Về nghệ thuật: Người Chăm An giang rất có năng khiếu về ca hát múa. Nhiều đội văn nghệ được thảnh lập, tham gia hát múa phục vụ bà con trong các dịp lễ hội hoặc tham gia thi diễn các nơi và đã mang về hàng chục chiếc huy chương vàng, huy chương bạc và nhiều bằng khen từ các hội diễn ca múa nhạc . Một loại hình âm nhạc mang đậm tính nhân đạo gọi là Rija hay múa nghi  lễ. Nét đẹp của Rija thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa, nhịp nhàng của các sự kiện lịch sử  với nghi lễ  truyền thống, và sự  kết hợp giữa ca hát với nhảy múa. Đối  với người Chăm, Rija là biểu tượng không thể tách rời khỏi nghệ thuật trong     đời sống văn hóa tinh thần. Múa Chăm rất phong phú và độc đáo. Những điệu múa cổ xưa thường được trình diễn trong các lễ hội. Múa quạt là điệu múa phổ thông của người Chăm, khi múa các vũ nữ dùng quạt làm đạo cụ để biểu diễn những loại múa khác nhau. Ngoài ra, còn có các điệu múa đặc sắc như:  múa  trống Paranưng, múa đoa pụ (đội bình nước trên đầu),… Người Chăm ở An  Giang dùng nhiều loại nhạc cụ, trong đó có các nhạc cụ cổ truyền phổ biến của dân tộc Chăm như đàn Kani, đàn Tapăp, kèn Saranay, kèn Rakle.

Về lễ hội: Người Chăm có nhiều ngày lễ lớn trong năm

Chúng tôi sẽ viết về các lễ hội của người Chăm tại An Giang trong một bài viết riêng để các bạn theo dõi.

Về tang lễ, ma chay:  Khi có người hấp hối, bà con lân cận đến để cùng  đọc kinh cầu cho linh hồn người chết bình thản rời khỏi cõi đời. Khi bệnh nhân  tắt thở, người nhà sẽ dùng tay thấm nước sạch vuốt mặt người chết. Thông thường, người chết được chôn trong ngày. Nếu chết buổi sáng thì chôn vào buổi chiều; nếu chết buổi tối thì sáng hôm sau chôn. Nghi thức tang lễ của người  Chăm theo đạo Islam ở An Giang được thực hiện theo bốn bước sau: Thứ nhất, tắm rửa sạch sẽ; thứ hai, bó tử thi cho kín toàn thân bằng vải trắng sạch; thứ ba, mọi người khiêng tử thi để trong “Madu” (là một tấm ván có mui cong để tử thi nằm) và khiêng tử thi đem đến Thánh đường làm lễ; thứ tư, đem chôn tử  thi.  Buổi tối ngày chôn cất, bạn bè người thân của tang chủ đến nhà tang chủ để cầu nguyện. Việc cầu nguyện như thế sẽ diễn ra trong ba đêm liền. Sau đó, người ta còn cầu nguyện vào các đêm thứ 7, thứ 10, thứ 40, thứ 100 và một lần nữa vào đúng 1 năm kể từ lúc người mất. Một điều đặc biệt trong  đám tang của cộng  đồng người Chăm ở An Giang là người thân không được khóc lóc, kể lể, nếu có cảm động thì có thể rơi một ít nước mắt, tuyệt đối không thờ cúng tử thi, không lạy và cũng không đốt nhang. Nghi thức tang lễ của người Chăm thực hiện nghiêm trang, gọn gàng, chu đáo, vệ sinh, văn  minh, tiết kiệm thể hiện tình  làng nghĩa xóm.

An Giang: Bắt 1 đối tượng trong nhóm cướp giật, tấn công du khách tại chùa Lầu

Sau nhiều ngày truy lùng, lực lượng Công an tỉnh An Giang đã bắt được 1 đối tượng trong nhóm cướp giật, tấn công du khách ngày 23.2 tại chùa Lầu (TT.Tịnh Biên, H.Tịnh Biên).
Việc vào cuộc quyết liệt và tìm bắt được đối tượng cướp giật ở các khu du lịch tại An Giang cũng làm cho du khách yên tâm. Đây là một thành tích đáng ghi nhận của Công An tỉnh.
Đối tượng cầm gạch gây thương tích cho anh Hòa hôm 23.2

Chiều ngày 1.3, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an H.Tịnh Biên, tỉnh An Giang cho hay, đơn vị đã ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Văn Trường (19 tuổi) ngụ ấp Châu Giang, xã Châu Phong, TX.Tân châu (An Giang) để tiếp tục điều tra, làm rõ về hành vi cố ý gây thương tích xảy ra tại chùa Lầu ngày 23.2.
Kết quả điều tra ban đầu, vào trưa 23.2, anh Huỳnh Công Hòa (41 tuổi, ngụ TP Châu Đốc) và chị Nguyễn Thị Tuyết Nga (36 tuổi, ngụ H.Tịnh Biên) cùng 3 người bạn đến chùa Phước Lâm (còn gọi là chùa Lầu, thuộc khóm Xuân Phú, TT.Tịnh Biên, H.Tịnh Biên) để tham quan, cúng viếng. Trong lúc chị Nga đứng chụp hình tại khu vực khuôn viên chùa thì bị nhóm khoảng 10 nam, nữ lạ mặt đứng xung quanh, xô đẩy.
Sau đó, 1 đối tượng trong nhóm này đã giật lấy sợi dây chuyền vàng trắng (trọng lượng 7 chỉ, trị giá khoảng 20 triệu đồng) của chị Nga đang đeo trên cổ. Khi chi Nga quay lại thì thấy 1 phụ nữ khoảng 30 tuổi đứng gần và nghi ngờ người này đã giật dây chuyền nên dùng tay túm áo người phụ nữ này và đôi bên xảy ra cự cãi.

Nhìn thấy sự việc, anh Hòa tiến lại gần thì bị 1 thanh niên lạ mặt cầm gạch ống đánh và ném vào người, gây thương tích ở vùng đầu phải khâu 7 mũi và xây xát vùng trán. Chị Nga cũng bị nhóm này dùng vật cứng đánh bị thương khâu 8 mũi ở đầu và bầm tím mắt trái.
Sau đó các đối tượng đã nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Toàn bộ sự việc được người dân chứng kiến và quay clip đưa lên mạng xã hội Facebook, khiến dư luận vô cùng phẫn nộ.
Qua xác minh thông tin của các nạn nhân cung cấp, đến ngày 24.2 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an H.Tịnh Biên đã ra quyết định khởi tố vụ án cướp giật tài sản, cố ý gây thương tích và gây rối trật tự nơi công cộng để tiếp tục điều tra và truy lùng nhóm đối tượng gây ra.
Công an H.Tịnh Biên thông tin, đây là nhóm đối tượng chuyên đi cướp giật, trộm cắp tài sản của du khách tại các lễ hội, gồm có khoảng 10-12 đối tượng, ngụ ở các huyện trong và ngoài tỉnh An Giang, lực lượng đã xác định bí danh các đối tượng này.
Sau nhiều ngày lẩn trốn, đến ngày 28.2 đối tượng Nguyễn Văn Trường đã bị Công an H.Tịnh Biên bắt giữ, để điều tra làm rõ về hành vi cố ý gây thương tích.
Hiện, các lực lượng Công an tỉnh An Giang đang truy tìm các đối tượng còn lại.

Du lịch An Giang ghé chơi những lễ hội của người Chăm

Về lễ hội: Người Chăm có nhiều ngày lễ lớn trong năm. Lễ hội của người chăm vô cùng đặc sắc và đậm đà những nét truyền thống có từ lâu đời.

Lâm viên Núi Cấm sẽ cùng bạn điểm qua những lễ lớn của người Chăm ở An Giang

  • Ngày 10 tháng Giêng Hồi lịch được gọi là tháng Muharram (một năm có 12 tháng, 6 tháng có 30 ngày, 6 tháng có 28 ngày). Các gia đình ăn chay hai ngày, làm lễ cầu nguyện tại Thánh đường và tặng quà cho người nghèo. Nhưng hiện nay chủ yếu là tặng quà cho trẻ em nên các em coi đây là ngày Tết của mình.
  • Tháng hai Hồi lịch, gọi là tháng Safar, là lễ cầu an được cử hành vào ngày thứ tư tuần lễ cuối của tháng. Đồng bào Chăm cũng đến Thánh đường cầu nguyện cho quốc thái dân an.
  • Lễ sinh nhật Muhamed: Ngày 12 tháng 3 Hồi lịch, tổ chức tại các Thánh đường rất trang trọng.
  • Lễ Giáo chủ Thăng thiên (Miarai) tháng 7 Hồi lịch.
  • Tháng 8 Hồi lịch (tháng Shaban) có lễ đại xá, được bắt đầu từ ngày rằm đến cuối tháng. Đây là tiệc giỗ hàng năm của dân tộc Chăm. Đồng bào Chăm thường tổ chức trọng thể ở các Thánh đường.
  • Bên cạnh đó, người Chăm còn có một số lễ hội nổi bật, khá hấp dẫn, mang đậm bản sắc dân tộc và tôn giáo, đó là “Lễ Ramadan” và “Lễ tết Roya Fitri”. Tháng Thánh lễ Ramadan bắt đầu từ mùng 1 tháng 9 đến hết 30 tháng 9
  • Hồi lịch mỗi năm. Khi bước vào ngày đầu tiên của tháng nhịn chay tức là vào ngày 1 tháng 9 Hồi lịch, người Chăm bắt đầu nhịn chay từ rạng đông (khoảng 6 giờ sáng) cho đến hết mặt trời lặn (khoảng 18 giờ) đều không được ăn, uống, cãi vã, quan hệ tình dục. Trong và sau tháng này những người có của phải thực hiện nghĩa vụ bố thí cho người nghèo nhằm giảm bớt sự cách biệt giàu nghèo. Lễ Tết Roya Fitri diễn ra trong ba ngày, từ ngày 01 đến ngày 03 tháng 10 Hồi lịch (sau tháng chay Ramadan) được coi là ngày tết của người Chăm. Họ đi chúc mừng nhau, xin xóa tội, hòa giải với nhau… Đặc biệt là khoảng từ ngày 29 – 30 đến hừng sáng ngày Tết, bắt buộc mọi người phải bố thí bằng tiền hoặc hiện vật cho người nghèo để họ cũng được niềm vui chung ngày tết. Trong dịp này, những gia đình khá giả sẽ dành ít tiền của cho những người nghèo khó, giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn. Họ quan niệm rằng, những gì họ có được đều do thánh Allah ban cho, vì vậy họ phải có nghĩa vụ bố thí, giúp đỡ người nghèo khó, điều đó giúp họ làm ăn tốt hơn trong năm mới.

Qua khái quát một số nét văn hóa của cộng đồng dân tộc Chăm ở An Giang, ta thấy hai yếu tố chi phối mọi mặt của đời sống xã hội là: Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tôn giáo Hồi Islam. Hòa vào dòng phát triển chung của văn hóa Việt nam và khu vực, cộng đồng Chăm ở An Giang đã bảo lưu nhiều phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc  mình, đồng thời hạn chế và xóa bỏ những mặt tiêu cực, không phù hợp với pháp luật và nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Các nghi lễ, tập tục của lễ hội được tiến hành đơn giản, nhẹ nhàng trên tinh thần “trọng thể,  vui  tươi,  an  toàn,  tiết kiệm”.

Văn hóa các dân tộc thiểu số là  tài sản vô giá. Bảo tồn, giữ gìn và phát  triển các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số là một trong những chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan quan tâm và coi đó là nội dung quan  trọng trong thực hiện chính sách dân tộc. Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt văn hóa, xã hội mà có ý  nghĩa về mặt  chính trị, kinh tế, giáo dục,…và thậm chí cả an ninh và quốc phòng. Cộng đồng người Chăm ở  An Giang có  ý  thức khá  tốt trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc riêng trong nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng”. Bản sắc đó đã hòa quyện và phát triển theo dòng lịch sử đấu tranh hào hùng của cộng đồng dân tộc anh em ở  Đồng bằng  sông Cửu Long và góp  phần không nhỏ cho  bức  tranh tươi đẹp của vùng đất  mới “chín rồng” như ngày nay.  Bảo tồn  và phát huy những cái  đẹp trong bản  sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc Chăm ở An Giang trong giai đoạn hiện nay   là một việc làm quan trọng và lâu dài. Bảo tồn không phải chỉ thụ động, co thủ   để bảo vệ nét đẹp của văn hóa cộng đồng dân tộc mình mà còn phải tích cực hội nhập, giao thoa với các nền văn hóa khác, tiếp nhận và tích hợp chúng để tạo ra những giá trị văn hóa mới. Ở  Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều dân tộc có bề  dày lịch sử và văn hóa cùng cộng cư; do  tính cách phóng khoáng, dễ tiếp nhận cái mới của người Nam bộ; do qui  luật tiếp biến văn hóa và tư duy tổng hợp,  biện chứng của ngưởi Việt Nam [5;13]; việc giao thoa, kết hợp những nét đẹp   của các dân tộc để hình thành thêm những giá trị mới, chung cho vùng là con đường tất yếu. Trong vườn hoa có nhiều loài hoa cùng chung sống chắc chắn sẽ có sự pha trộn làm xuất hiện những giống hoa với màu sắc mới./.