Author Archives: Thanh Nguyen

Những chợ nổi nhộn nhịp nhất định bạn phải đến khi đến miền Tây

Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản

xuất được hàng hóa, mang đi trao đổi, lấy một loại hàng hóa khác.
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã đưa ra định nghĩa về chợ như sau: “Chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày, buổi nhất định”1.
Theo tác giả Nhâm Hùng, thật ra, khái niệm chợ nổi chỉ xuất hiện khoảng ba mươi năm gần đây… Khi các nhà nghiên cứu để mắt tới, cũng như sự hấp dẫn của cung cách mua bán trên mặt sông, thu hút ngày càng nhiều tour du lịch, lúc ấy mô hình chợ nổi mới được đề cập nhiều.

Khảo sát các bài viết về chợ nổi ở miền Tây Nam Bộ, chúng tôi còn gặp nhiều bài viết của các tác giả thể hiện những cách hiểu về nó trên các trang website. Có thể dẫn ra như sau: Chợ nổi là một loại hình chợ thường xuất hiện tại vùng sông nước được coi là tuyến giao thông chính. Nơi cả người bán và người mua đều dùng ghe hoặc thuyền làm phương tiện vận tải và di chuyển. Địa điểm có chợ nổi thường tại các khúc sông không rộng quá mà cũng không hẹp quá. Khúc sông phải tương đối rộng, không cạn quá mà cũng không sâu quá. Nếu sông sâu quá, lớn quá thì không thể neo đậu xuồng, ghe một cách dễ dàng và rất nguy hiểm.

Chợ nổi là nét sinh hoạt độc đáo của vùng châu thổ sông Cửu Long. Chợ họp trên sông, giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm, hàng nghìn chiếc xuồng, ghe của dân miệt vườn miền Tây Nam Bộ về đây tụ tập mua bán3; Sở dĩ chợ nơi đây được gọi là chợ nổi vì chợ không họp ở gần nơi đông đúc dân cư mà lại họp ở trên sông, giữa một vùng sông nước bao la với hàng trăm chiếc xuồng, ghe tụ họp mua bán tấp nập. Điều khác lạ của những ngôi chợ này xuất phát từ chính vị trí địa lí của vùng đất này. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long vốn là một vùng đất phù sa, được bồi đắp quanh năm bởi hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu. Vì tập quán sống trên sông nước, di chuyển chủ yếu bằng ghe thuyền, nên chợ cũng được tổ chức ngay chính trên sông; …
Từ một số cách hiểu này, chúng tôi đưa ra định nghĩa ngắn gọn và khái quát về chợ nổi như sau: Chợ nổi là nơi có nhiều xuồng, ghe cùng tụ họp và mua bán, trao đổi hàng hóa ngay trên mặt sông. Nơi họp chợ là các vàm sông hay là nơi các ngả sông giao nhau.

Xem thêm các địa điêm du lịch tại An Giang

du lịch núi cấm An Giang

giá vé công viên nước Thanh Long Núi Cấm

chợ nổi miền tây

Một số chợ nổi tiêu biểu ở miền Tây Nam Bộ

a. Chợ nổi Cái Bè

Chợ họp trên sông Tiền, từ cầu Cái Bè, qua kênh 28, xuôi theo cù lao Tân Phong về phía hạ lưu. Chợ nổi Cái Bè có chiều dài cả cây số ngàn. Chợ ở vị trí giáp ranh giữa 3 tỉnh: Tiền Giang, Vĩnh Long và Bến Tre
Chợ nổi Cái Bè hình thành hai khu vực riêng biệt: khu vực bán sỉ hàng hóa nông sản và khu mua bán trái cây. Chợ hoạt động theo con nước lớn, nhưng thường diễn ra ở bờ Nam vào khoảng 3 – 5 giờ sáng và từ 13 – 16 giờ chiều. Quy mô chợ phụ thuộc vào vụ mùa trái cây, trung bình hàng ngày có vài chục phương tiện trọng tải lớn neo đậu và khoảng vài trăm phương tiện ghe, thuyền lớn nhỏ của các hộ dân địa phương hội tụ lại đây để giao dịch. Số lượng trái cây mua bán bình quân mỗi ngày khoảng 100 – 200 tấn.

chợ nổi cái bè

b. Chợ nổi Long Xuyên

Chợ nổi ở Long Xuyên từ lâu đã trở thành cái tên quen thuộc trong vùng. Chợ nằm trên sông Hậu, thuộc phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nơi đây tập trung hàng trăm xuồng, ghe neo đậu san sát trên sông, sinh hoạt và buôn bán quanh năm suốt tháng.

chợ nổi cái bè

c. Chợ nổi Phong Điền

Chợ nằm ngay ngã ba sông, một nhánh từ Cần Thơ vào, một nhánh rẽ đi Cầu Nhím và một nhánh xuôi về Trường Long (thuộc xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền), cách thành phố Cần Thơ khoảng 17 km. Các nhà thuyền ở đây chủ yếu là dân địa phương, đem các loại hàng nông sản, hoa quả miệt vườn đến bán cho ghe thuyền các nơi khác. Chợ hoạt động tập trung nhất vào khoảng 6 đến 7 giờ sáng. Chợ nổi Phong Điền cũng là một trong những chợ buôn bán trái cây lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.3

d. Chợ nổi Ngã Bảy

Còn gọi là chợ nổi Phụng Hiệp, là một chợ nổi thuộc thị xã Ngã Bảy, được hình thành từ năm 1915. Với bảy nhánh kênh, rạch tụ hội đã tạo nên sức lan toả, tác động quá lớn, vùng trung tâm Ngã Bảy trở thành đầu mối giao thông thuỷ lớn nhất Nam Kỳ, song hành với một trung tâm giao thương hàng hoá lớn của cả miền cực Nam, tác động mạnh đến thị trường nông sản miền Tây. Đây là chợ nổi nổi tiếng của tỉnh Hậu Giang và cả Đồng bằng sông Cửu Long.4

e. Chợ nổi Cái Răng

Cách trung tâm thành phố Cần Thơ chỉ khoảng 5 cây số, chợ nổi Cái Răng được xem là chợ đầu mối giữa thành phố Cần Thơ lan tỏa hàng hóa đi các huyện và các tỉnh trong toàn miền Tây Nam Bộ. Khác với chợ nổi Ngã Bảy và Phong Điền, chợ nổi Cái Răng tập trung rất đông ghe, thuyền từ các tỉnh khác đem hàng hóa đến cho dân địa phương. Do gần trung tâm thành phố Cần Thơ nên chợ nổi Cái Răng có mật độ ghe, thuyền qua lại buôn bán nhộn nhịp

chợ nổi cái răng

f. Chợ nổi Trà Ôn

Chợ nổi Trà Ôn nằm ngay giữa ngã ba sông Hậu và sông Mang Thít, thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Đây là chợ nổi cuối cùng trên sông Hậu trước khi đổ ra biển. Nét đặc biệt của chợ nổi Trà Ôn so với các chợ nổi khác chính là việc nhóm họp chợ theo con nước. Do đó, du khách có thể ngắm nhìn nét đẹp của chợ vào các buổi trong ngày tùy theo con nước, lúc cao điểm của con nước lớn. Tất cả các loại hàng hóa nông sản tại đây đều được mua bán theo nhóm hàng, được phân phối từ các ghe vườn theo dạng bán sỉ. Nét độc đáo này cũng đã tạo cho khu chợ nổi Trà Ôn một nét riêng, có sức cuốn hút du khách gần xa.1

g. Chợ nổi Ngã Năm

Chợ họp tại giao điểm của 5 dòng sông tỏa đi 5 ngả: kênh xáng Quản Lộ Phụng Hiệp chạy từ Cà Mau lên Ngả Bảy, đường sông tự nhiên từ Vĩnh Quới chảy ra rồi vươn dài về Thạnh Trị, trước đây sông nhỏ nay được xáng múc vừa sâu vừa rộng. Và ngả còn lại từ Ngã Năm được xáng múc về hướng Long Mỹ, Hậu Giang. Ngay nay, chợ họp chính là đoạn này hướng về Xáng Chìm.
Ðây là một trong những chợ nổi có từ lâu và sầm uất vào loại bậc nhất trong vùng.

h. Chợ nổi Miệt Thứ

Miệt Thứ (thuộc Vĩnh Thuận, Kiên Giang) là vùng đất chạy dọc theo vịnh Thái Lan thuộc hai huyện An Minh và An Biên (Kiên Giang), kéo dài đến rừng U Minh. Về tên gọi các thứ, chúng tôi đã nói ở phần trên. Mỗi thứ có nhóm chợ tại các đầu kênh. Chợ nổi vùng Miệt Thứ, được hình thành bằng những chiếc ghe lớn, như những ngôi nhà nổi, bềnh bồng trên sông nước, chở theo nhiều loại hàng hóa. Trong đó, nhiều ghe bán các loại chén bát, bếp củi, bếp lò đun bằng trấu, bàn ghế… Đặc biệt, do ở đây không có nhiều dừa nước để lấy lá lợp nhà, nên một số ghe lá từ huyện Gò Quao, huyện Giồng Riềng thường đến buôn bán. Vào mùa mưa, mặt hàng này bán rất chạy.

chợ nổi miền Tây

i. Chợ nổi Gành Hào

Chợ họp trên sông Gành Hào, cách cầu Gành Hào khoảng hơn 200m, thuộc địa bàn phường 8 ở trung tâm thành phố Cà Mau. Ngày trước, chợ ở giữa ngã ba chùa Bà cách đó khoảng hơn chục cây số. Điều thích thú ở đây mà các chợ nổi khác không có là thỉnh thoảng có một vài chiếc ghe bán chiếu rong. Xưa kia, đây là nơi tụ tập kiếm sống của người tứ xứ và bán nhiều loại hàng hóa khác nhau. Bây giờ, chợ chỉ còn bán các sản vật của miệt vườn.
Xuất hiện muộn hơn còn có chợ nổi Ngan Dừa (Bạc Liêu), chợ nổi An Hữu (Cái Bè – Tiền Giang), …

chợ nổi miền tây

Nguồn: Lâm Viên Núi Cấm

Lịch sử của thành phố Châu Đốc

Từ khi hình thành đến nay, vùng đất Châu Đốc (An Giang) đã hơn 260 năm (1757 – 2020) và vẫn không ngừng phát triển về mọi mặt.

Lịch sử của Châu Đốc

Châu Đốc đạo ra đời năm 1757 trong bối cảnh hết sức đặc biệt. Châu Đốc xưa là đất Tầm Phong Long. Ngược về quá khứ, vào thời dựng nước cách nay khoảng 2.000 năm, nơi đây nối liền một dải với trung tâm văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam, trung tâm của nền văn minh thành thị lâu đời, rực rỡ nhất ở VN và khu vực Đông Nam Á. Năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước và với tầm nhìn quốc gia, ông cho rằng: “Bờ cõi Châu Đốc không kém Bắc thành”.

Vì thế, vua Gia Long đã dành sự quan tâm đặc biệt đến Châu Đốc. Năm 1808, ông cho lập trấn Vĩnh Thanh và lấy Châu Đốc làm trấn lỵ. Năm 1816 tổ chức đắp đồn Châu Đốc, chiêu tập người Kinh, Hoa, Khmer đến tụ cư và tổ chức đào kinh Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, TX.Châu Đốc không có điều kiện phát triển nhưng 40 năm sau ngày thống nhất đất nước, Châu Đốc đã có những bước phát triển vượt bậc, từ một thị xã nhỏ vùng biên nay trở thành đô thị loại 2 trực thuộc tỉnh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên. Nhiều trường học, bệnh viện, đường xá, cơ sở hạ tầng được tu sửa, mở rộng, xây mới xứng tầm một đô thị phát triển.

Châu Đốc hướng đến thành phố du lịch

TP.Châu Đốc nằm bên ngã ba sông Châu Đốc và sông Hậu, tạo nên thế sông núi hữu tình, khí hậu ôn hòa, thuận lợi cho phát triển thương mại, dịch vụ, giao thương kinh tế trong nước và biên giới. Châu Đốc có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích được công nhận cấp quốc gia và 2 di tích được công nhận cấp tỉnh.
Ngày nay, tỉnh An Giang hướng Châu Đốc là một thành phố du lịch Xanh.
Đặc biệt, lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam đã được Bộ VH-TT-DL công nhận là lễ hội cấp quốc gia và di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hằng năm, Châu Đốc thu hút trên 4,5 triệu lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan.
Châu Đốc vẫn còn một “kho báu” phục vụ du lịch. Đó là lăng mộ Thoại Ngọc Hầu tại triền núi Sam với nhiều cổ vật, di vật tùy táng hấp dẫn du khách.

Những địa điểm du lịch thu hút ở Châu Đốc

Khu du lịch Núi Sam

Sức hút du lịch tâm linh của địa phương chủ yếu dựa vào độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch, trong đó phải kể đến cụm di tích Núi Sam, đặc biệt là miếu Bà Chúa Xứ nổi tiếng hiển linh. Theo đánh giá của Ban quản lý di tích văn hóa, lịch sử và du lịch Núi Sam, số lượng khách tham quan đến Khu du lịch  Núi Sam thời điểm đầu năm 2016 đến nay tăng khoảng 5-10% so với cùng kỳ năm 2015. Cụ thể, từ đầu năm 2016 đến giữa tháng 2, Khu du lịch Núi Sam đón tiếp gần 430.000 lượt khách. Đây là  kết quả của những nỗ lực khai thác du lịch hành hương của ngành chức năng ở địa phương. Khu du lịch  Núi Sam có 6 di tích văn hóa lịch sử được công nhận; trong đó, có 4 di tích được công nhận cấp quốc gia gồm: Miếu bà chúa xứ Núi Sam,  Lăng Ông, chùa Tây An, chùa Phước Điền và 2 di tích được công nhận cấp tỉnh gồm: nhà bia ghi danh liệt sĩ và đình thần Vĩnh Tế. Song song đó, các giá trị văn hóa tinh thần và lịch sử khai mở vùng đất Châu Đốc, những sản phẩm lao động sáng tạo, văn hóa đặc trưng vùng đất và con người An Giang cũng được khai thác phục vụ du lịch. Hoạt  động du lịch tại cụm di tích được diễn ra quanh năm, nhưng tập trung chủ yếu là mùa lễ hội vía Bà.

Lăng Thoại Ngọc Hầu

Lăng Thoại Ngọc Hầu là công trình đồ sộ nhất ở chân núi Sam. Khu lăng có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân được xây vào thập niên 30 của thế kỷ 20. Nói đến An Giang thì không thể không nhắc đến những công trình tiêu biểu, gắn với một thời khẩn hoang, lập làng bảo  vệ  biên cương Tổ quốc của Thoại Ngọc Hầu – Nguyễn Văn Thoại. Ông là người có công đào kênh, đắp đường, góp phần xây dựng nên xứ sở An Giang tươi đẹp ngày nay, với các công trình như: lộ núi Sam  – Châu Đốc dài 5km được đắp từ năm 1826-1827, kênh Thoại Hà dài 30km tại núi Sập được đào năm 1818.Người dân nơi đây gọi núi Sập là “Thoại Sơn” để ghi nhớ công lao Thoại Ngọc Hầu. Cùng với Miếu Bà Chúa Xứ thì đây là công trình tôn giáo –  tín ngưỡng thu hút rất nhiều du khách  hằng năm. Du khách đến đây để tri ân bậc tiền nhân đã có công mở cõi, khai hoang lập ấp vùng đất này. Bên cạnh đó, những nét độc đáo về mặt kiến trúc trong việc xây dựng cũng là điều thú vị thu hút du khách phương xa.

Xem thêm: du lịch núi Cấm An Giang

du lịch tâm linh ở An Giang

những khu vui chơi ở An Giang

Sưu tầm Lâm Viên Núi Cấm

Thời gian và địa điểm tổ chức các lễ hội lớn ở An Giang

Vùng đất An Giang là vùng đất có truyền thống văn hóa đặc trưng miền Tây với chợ nổi và nhiều lễ hội như: đua bò Bảy Núi, hội đình Châu Phú, hội miếu Bằng Lang, hội đền Bảo Sanh

Các lễ hội Cầu phước cho các linh hồn thân nhân đã khuất được đầu thai sang kiếp khác, để người quá cố được sung sướng hơn. Trong dịp lễ Đôlta có hội đua bò theo thể thức truyền thống của người Kh’mer.

Lễ hội Quốc gia Vía Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc) là lễ hội lớn ở An Giang. Tuy chính thức cử hành vào cuối tháng tư âm lịch hàng năm, nhưng ngày nay đã trở thành một lễ hội dân gian được cộng đồng hưởng ứng mạnh mẽ và có thời gian kéo dài lâu nhất, bắt đầu ngay sau Tết Nguyên đán đến giữa năm dương lịch. Vì thế, hiện nay người ta gọi thời gian này là “Mùa lễ hội” để chỉ sự nhộn nhịp, sung túc kéo dài trên địa bàn và chính điều này đã giúp Châu Đốc trở thành một địa bàn du lịch, thương mại nổi tiếng ở khu vực ĐBSCL và cả nước.

Hãy cùng Lâm Viên Núi Cấm điểm qua những hoạt động lễ hội hàng năm ở An Giang nhé. Nếu có một lần ghé đây chơi hãy cùng nhau tham dự các lễ hội văn hóa này cùng với chúng tôi.

lễ hội văn hóa ở an giang

Các lễ hội chính ở An Giang

Hội đình Long Phú
Thời gian: 7/1 âm lịch.
Địa điểm: Xã Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng bổn cảnh.
Đặc điểm: Lễ khai hạ, cầu mùa.

Hội đền Bảo Sanh
Thời gian: 15/1 âm lịch.
Địa điểm: Xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đối tượng suy tôn: Lão Gia (danh y cổ Trung Quốc).
Đặc điểm: Lễ hội cầu sự việc tốt lành.

Hội đền Nguyễn Trung Trực
Thời gian: 18 – 19/ 10 âm lịch.
Địa điểm: Xã Long Kiên, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đối tượng suy tôn: Nguyễn Trung Trực, thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở Nam Bộ.
Đặc điểm: Lễ dâng hương, lễ cúng tưởng niệm.

Hội miếu Bằng Lang
Thời gian: 15 – 16/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đối tượng suy tôn: Bà Thượng Đồng Cổ Hỷ.
Đặc điểm: Dâng lễ vía Bà, hát bội.

Lễ Đôlta và hội đua bò
Đối tượng tôn vinh: Tưởng nhớ công ơn tổ tiên và cầu phúc cho linh hồn người đã chết.
Thời gian: Từ ngày 29 tháng 8 đến ngày 1 tháng 9 âm lịch (nếu tháng thiếu sẽ kéo dài sang ngày 2 tháng 9 âm lịch).
Địa điểm: Tại chùa, từng gia đình cộng đồng người Kh’mer thuộc huyện Tri Tôn hoặc Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đặc điểm: Cầu phước cho các linh hồn thân nhân đã khuất được đầu thai sang kiếp khác, để người quá cố được sung sướng hơn. Trong dịp lễ Đôlta có hội đua bò theo thể thức truyền thống của người Kh’mer.

lễ hội đua bò an giang

Lễ hội đình Châu Phú
Thời gian: 9 – 11/5 âm lịch.
Địa điểm: Phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đối tượng suy tôn: Nguyễn Hữu Cảnh (cháu của Nguyễn Trãi).
Đặc điểm: Dâng hương, lễ kỳ yên, hát bội đêm.

Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ
Thời gian: từ đêm 23/4 đến 27/4 âm lịch
Địa điểm: miếu Bà Chúa Xứ, núi Sam, cách thị xã Châu Đốc 7km
Đối tượng suy tôn: Bà Chúa Xứ
Đặc điểm: lễ tắm Bà.

lễ vía bà An Giang

Tin liên quan:

Văn hóa ở An Giang

Du lịch núi Cấm An Giang

An Giang vùng đất du lịch dân dã

Sưu tầm Lâm Viên Núi Cấm

Văn hóa ở An Giang

Công tác bảo tồn và tôn tạo các di tích được tăng cường kết hợp hệ thống lễ hội ngày càng hoàn thiện tạo ra đặc thù văn hoá mới của An Giang. Hoạt động văn hoá thông tin đã bám sát và phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, khu du lịch núi Cấm đang tiếp tục triển khai, Lễ hội vía bà Chúa Xứ núi Sam được tổ chức tốt và có dự án đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước mưa, nước thải, nước sinh hoạt và bãi xử lí rác quanh khu vực Miếu. Lễ hội đua bò Bảy núi được nâng cấp quảng bá thành sản phẩm du lịch. Xây dựng thêm 15 nhà văn hoá xã, 100% xã phường có đài truyền thanh hoạt động thường xuyên kịp thời đưa thông tin đến người dân.

Tất cả góp phần nâng cao độ bền vững của sự ổn định và tiến bộ xã hội là biểu hiện tốt để phát triển du lịch vì một khi dân trí cao, điều kiện sống được cải thiện không còn lo thiếu ăn thiếu mặc, không còn lo thất nghiệp thì ý thức con người sẽ phát triển theo, họ sẽ quan tâm hơn đến nhu cầu làm đẹp, đến sức khoẻ, đến nghỉ ngơi giải trí.
Đó là những gì đạt được nếu xét chung trong toàn tỉnh nhưng nếu xét riêng ở khu vực nông thôn tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao 14% và những tệ nạn xã hội như ma tuý, tội phạm, côn đồ… ở nông thôn và giới trẻ còn diễn biến phức tạp là một mối đe doạ lớn đối với xã hội. Và một thực trạng không thể không nhắc đến đó là hiện tượng ăn xin nheo nhóc trước các khu du lịch, giá cả sản phẩm cũng như dịch vụ tại các điểm du lịch của tư nhân quá cao chưa có sự thống nhất giá, rác thải không hợp lí mất vệ sinh đã gây cho khách du lịch không ít sự phiền hà, bực bội. Đó chỉ là tác động nhỏ nhưng lại ảnh hưởng lớn đến hiệu quả du lịch của tỉnh.

Như đã biết, An Giang có nhiều di tích lịch sử-văn hoá phong phú là những sản phẩm văn hoá mang màu sắc tôn giáo như: Núi Sam (thị xã Châu Đốc), núi Cấm (huyện Tịnh Biên), đồi Tức Dụp (huyện Tri Tôn), văn hoá Óc Eo (huyện Thoại Sơn)… đa dạng các loại hình du lịch, nổi tiếng với các lễ hội văn hoá dân tộc và cảnh đẹp tự nhiên của những danh lam thắng cảnh (xem phần giới thiệu chung về tỉnh An Giang-chương 3). Hiện nay, tỉnh có 27 di tích cấp quốc gia, 30 di tích cấp tỉnh và hệ thống đình làng, 4 lễ hội hàng năm đã thu hút hàng vạn khách tham quan và tham dự. Bên cạnh đó, An Giang có đủ 6 loại hình tôn giáo của cả nước: trong đó đạo Phật, đạo Công Giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi từ nước ngoài du nhập vào, còn 2 tôn giáo nội sinh mang tính chất địa phương là đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo. Chính sự hoà nhập giữa các tôn giáo đã tạo nên con người Việt Nam giàu tính khoan dung, hiếu khách, từ đó tạo nên một sự đoàn kết dân tộc trong tín ngưỡng tôn giáo – một nét đặc trưng mà không phải nơi đâu cũng có được và cũng chính những nhân tố này đã giúp cho AG trở thành tỉnh có tiềm năng du lịch to lớn.

An Giang giàu đẹp hơn

An Giang giàu đẹp bởi tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng kinh tế đa dạng, nhiều kênh rạch, ao hồ nước ngọt quanh năm, phù sa bồi đắp đất đai màu mỡ. An Giang có rừng, có núi, có lịch sử hình thành và phát triển rất phong phú, chứa đựng cả một kho tang kinh tế – văn hoá. Tất cả như một ưu đãi riêng cho ngành công nghiệp không khói ở AG ngày càng phát triển. Trước những tiềm năng du lịch của tỉnh, hiện tại, công ty du lịch AG đã có cơ sở kinh doanh du lịch phân bố khắp địa bàn du lịch trọng điểm với nhiều loại hình như: lữ hành nội địa và quốc tế. Thực hiện các tour nội tỉnh, đặc biệt Homestay Tour, Mekong Tour và du lịch mùa nước nổi. Cho thuê phương tiện thuỷ, bộ. Bán vé máy bay trong và ngoài nước. Bán vé tàu Châu Đốc – Phnôm Pênh. Hướng dẫn, phiên dịch. Xuất khẩu lao động.

cảnh đẹp an giang

Vì thế, định hướng phát triển du lịch là khai thác tối đa về lợi thế du lịch tỉnh, đa dạng hoá các loại hình du lịch, các khu du lịch luôn luôn đổi mới các loại hình dịch vụ giải trí và cảnh quan ngày càng hấp dẫn du khách. Trong tương lai, có cơ hội mở rộng thị trường du lịch trong vùng và khu vực, liên kết với các  vùng du lịch trọng điểm của cả nước để thu hút khách du lịch đến An Giang.

Như đã biết, An Giang có nhiều di tích lịch sử-văn hoá phong phú là những sản phẩm văn hoá mang màu sắc tôn giáo như: Núi Sam (thị xã Châu Đốc), núi Cấm (huyện Tịnh Biên) – du lịch Núi Cấm An Giang, đồi Tức Dụp (huyện Tri Tôn), văn hoá Óc Eo (huyện Thoại Sơn)… đa dạng các loại hình du lịch, nổi tiếng với các lễ hội văn hoá dân tộc và cảnh đẹp tự nhiên của những danh lam thắng cảnh (xem phần giới thiệu chung về tỉnh An Giang-chương 3). Hiện nay, tỉnh có 27 di tích cấp quốc gia, 30 di tích cấp tỉnh và hệ thống đình làng, 4 lễ hội hàng năm đã thu hút hàng vạn khách tham quan và tham dự. Bên cạnh đó, An Giang có đủ 6 loại hình tôn giáo của cả nước: trong đó đạo Phật, đạo Công Giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi từ nước ngoài du nhập vào, còn 2 tôn giáo nội sinh mang tính chất địa phương là đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo. Chính sự hoà nhập giữa các tôn giáo đã tạo nên con người Việt Nam giàu tính khoan dung, hiếu khách, từ đó tạo nên một sự  đoàn kết dân tộc trong tín ngưỡng tôn giáo – một nét đặc trưng mà không phải  nơi đâu cũng có được và cũng chính những nhân tố này đã giúp cho AG trở  thành tỉnh có tiềm năng du lịch to lớn.

an giang sông nước

Đã từ lâu, các doanh nghiệp đã thừa nhận rằng điều kiện tự nhiên giữ một vai trò rất quan trọng để hình thành khả năng cạnh tranh. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch lại càng quan tâm hơn về yếu tố này, nó cũng là một áp lực quyết định đến hiệu quả du lịch vì thị trường tiêu thụ du lịch phải di chuyển về hướng sản phẩm du lịch chứ không như các sản phẩm tiêu dùng khác dễ di chuyển về các thị trường tiêu thụ. Có ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên thì có thể xem như tiềm năng du lịch đã rộng mở, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp du lịch khai thác và ngày càng phát triển.

  • Xét về vị trí địa lý, An Giang là một bộ phận của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 190 km về phía Tây Nam bộ, có đường biên giới trên 90 km đất liền với vương quốc Campuchia, có cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (huyện Tân Châu), Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên) và các cửa khẩu quốc gia khác, có nhiều con đường từ các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên Giang đến An Giang. Đó là lợi thế để AG có thể giao lưu hoặc tiếp cận nhiều mặt thay đổi của cả nước, ngoài ra với số km đường như vậy rất thuận lợi cho việc mua bán, trao đổi hàng hoá, mở rộng quan hệ với tiểu vùng Mekông gồm Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và một số nước Đông Nam Á khác và cũng thuận tiện cho khách nước ngoài quá cảnh đến An Giang.
  • Xét về địa hình, An Giang là tỉnh đồng bằng có núi, nhất là khu vực Bảy núi và vùng đồi thấp với diện tích 417 km2. Khu vực này chiếm diện tích khá lớn đất nông nghiệp nhưng lại có nhiều tiềm năng cho ngành công nghiệp không khói của tỉnh, do có không gian thoáng đãng bao la, có nhiều di tích và tài nguyên văn hoá lịch sử độc đáo như: di tích lịch sử núi Sam, núi Ba Thê, núi Sập… tạo nên một loại hình du lịch leo núi, tham quan cắm trại ngày nay được nhiều người ưu chuộng.
  • Thêm vào đó, An Giang có khu vực đất phù sa nước ngọt nằm giữa 2 con sông Tiền và sông Hậu tạo thành hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc dễ dàng cho tàu bè đi lại. Hàng năm 2 con sông này đón nhận một lượng phù sa đáng kể làm tăng sự màu mỡ của những cánh đồng bạt ngàn và hình thành nên những cù lao lớn. Chúng được xem như hệ thống giao thông đường thủy vô cùng quan trọng của tỉnh. Điều thú vị là du khách đến An Giang không chỉ để tham quan  các khu du lịch mà còn để ngắm những cách đồng lúa bạt ngàn và vui chơi ở vườn trái cây tươi mát.
  • Xét về khí hậu, An Giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 27oC với lượng mưa trung bình 1.497 mm, có thể nói khí hậu khá điều hoà rất dễ chịu đối với khách du lịch. Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm là sự ảnh hưởng của mùa nước nổi với những cơn lũ mỗi năm đã làm thiệt hại nhiều cơ sở hạ tầng, tàn phá nhiều tuyến du lịch, đường xá bị ngập rất nhiều và hoạt động du lịch gần như bị ngưng trệ…

Vì sao nói An Giang là vùng đất của du lịch dân dã

Tỉnh An Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long, cách thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phía Tây Nam Bộ. Bắc giáp với vương quốc Campuchia; Tây giáp với tỉnh Kiên Giang; Nam giáp với tỉnh Cần Thơ; Đông giáp với tỉnh Đồng Tháp. An Giang có: 1 thành phố (Long Xuyên), 1 thị xã (Châu Đốc), và 9 huyện (Chợ Mới, Châu Thành, Tân Châu, An Phú, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn, Châu Phú). Gồm có các dân tộc tiêu biểu: Kinh, Chăm, Hoa, Khmer; với các tôn giáo là đạo Phật, Cao Đài, Công Giáo, đạo Hồi và đạo Hoà Hảo.
– Diện tích : 3.424 km2
– Dân số : 2.113.429 người
– Mật độ dân cư : 617 người/km2
An Giang cũng như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác có khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm tỉnh có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Hàng năm AG vẫn đón nhận con nước lũ khoảng từ 2,5 tháng đến 5 tháng và hình thành “mùa nước nổi”. Nhiệt độ trung bình năm là 27oC. Độ ẩm 79 – 80%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.497 mm. Nền kinh tế chính là nông nghiệp, đặc biệt đứng đầu cả nước
về sản lượng lúa trên 2 triệu tấn/năm; ngoài ra, còn trồng bắp, đậu nành và nuôi (trồng) thuỷ sản nước ngọt như cá, tôm… An Giang còn nổi tiếng với các nghề thủ công truyền thống như: lụa Tân Châu, mắm Châu Đốc, mộc Chợ Thủ, bánh phồng (Phú Tân), khô bò, khô cá và các mặt hàng tiêu dùng. Đặc biệt là nghề dệt vải thủ công lâu đời của đồng bào Chăm và nghề nuôi cá bè đặc trưng của vùng sông nước.

 Đặc điểm du lịch của tỉnh An Giang

An Giang là vùng đất phì nhiêu với khí hậu trong lành có những cánh đồng tràn ngập màu xanh, xen kẽ với những dãy núi gắn với những câu chuyện huyền bí về các đạo giáo. Nói đến AG là người ta nghĩ ngay đến quê hương của bác Tôn – vị chủ tịch đầu tiên của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. An Giang còn tự hào về truyền thống lịch sử vẻ vang cũng như về vùng đất và con người ở đây. Người dân AG mến khách, đất đai AG thẳng cánh cò bay, bốn mùa hoa thơm trái ngọt. An Giang là nơi ghi dấu tích về ý chí kiên cường chinh phục thiên nhiên, khai hoang lập nghiệp của cha ông mà tiêu biểu là danh tướng Thoại Ngọc Hầu.
An giang là tỉnh có 4 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Việt (94,24%), người Khmer (4,23%), người Chăm (0,63%) và người Hoa (0,90%) và các dân tộc khác. Mỗi dân tộc đều có những nét sinh hoạt văn hóa và các lễ hội của mình, nổi tiếng có các lễ hội văn hóa dân tộc như:

  • Lễ hội Bà Chúa Xứ: đây là lễ hội dân gian lớn nhất của Nam bộ được tổ chức hàng năm ở Châu Đốc, thu hút rất đông khách thập phương đến để tham dự và xem lễ tắm Bà, xem múa bóng, hát bội, xin cầu tài cầu lộc, để du ngoại, chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên tuyệt đẹp xung quanh…
  • Đối với dân tộc Khmer có: Lễ hội Chol Chnam Thmay là lễ năm mới lớn nhất của người Khmer Nam Bộ (tương tự như tết Nguyên đán của người Việt), mọi người có thể tham gia các trò chơi như thả diều, đánh quay lửa, xem đốt pháo thăng thiên, xem người trong làng múa Roam Vông, hát Dù Kê…; Lễ Đôn Ta là ngày lễ ông bà (như tết Thanh Minh của người Việt); Lễ hội đua bò là nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người Khmer ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.
  • Lễ hội Hát Gi (Haji hay còn gọi Roja Haji): là lễ hội của cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi, cũng giống như tết của người Việt, được diễn ra tại chùa Chăm lớn Châu Giang xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân. Đến với lễ hội, mọi người có thể tham gia các cuộc vui chơi, sinh hoạt văn hóa thể thao như ca hát, đua ghe…
  • người chăm ở an giang
  • Bên cạnh những lễ hội là các di tích lịch sử – văn hóa vốn là những công trình xây dựng, khu phố cổ, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị về văn hóa khác, hoặc có liên quan đến những danh nhân, anh hùng, những sự kiện lịch sử về quá trình hình thành dân tộc, phát triển văn hóa, xã hội. Ở An giang có: khu di tích lịch sử Tức Dụp là di tích cách mạng, ghi dấu những sự kiện lịch sử trọng đại trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ của nhân dân tỉnh AG, nằm ở phía tây chân núi Cô Tô và núi Thất Sơn, thuộc địa phận xã An Ninh, huyện Tri Tôn, trên đồi là chi chít hang động và các tầng đá kết thành giống như một tổ ong vĩ đại; thành cổ Óc Eo tại vùng núi Sập – Ba Thê, huyện Thoại Sơn; nhà lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng ở ấp Mỹ An, xã Hoà Hưng, cách thị xã Long Xuyên 3 km; di tích lịch sử đền thờ quản cơ Trần Văn Thành; di tích lịch sử cách mạng Cột Dây Thép; thêm vào đó là các công trình kiến trúc như: chùa Xã Tón, lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu bà Chúa Xứ, chùa cổ Tây An, chùa Giồng Thành, chùa Chăm (thánh đường hồi giáo Ma Ba Rák) và nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác.xem thêm: du lịch núi cấm An Giang

    Những khu vui chơi ở An Giang

    du lịch tâm linh ở An Giang

    tỉnh an giang

  • Ngoài những công trình kiến trúc, nghệ thuật do bàn tay khối óc con người tạo nên, AG còn có những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên ưu đãi, đó là các cảnh đẹp tự nhiên hoặc có công trình xây dựng cổ, nổi tiếng, đã vượt qua khuôn khổ thời gian và không gian tồn tại đến ngày nay như: khu du lịch núi cấm thuộc huyện Tịnh Biên cách thị xã Châu Đốc 30 km, là một ngọn trong dãy “Thất Sơn” hùng vĩ của AG, núi Cấm cao 710 m, đường đi lên núi thoải mái, sườn núi có nhiều cảnh đẹp như suối Thanh Lang, động Thuỷ Liêm, hang Vồ Bồ Hông…; khu du lịch núi Sam là khu du lịch nổi tiếng thuộc xã Vĩnh Tế (phía tây thị xã Châu Đốc). Có đến 200 ngôi đền, chùa, am, miếu nằm rải rác ở chân núi, sườn núi và cả trên đỉnh núi, đặc biệt dưới chân núi có lăng Thoại Ngọc Hầu;…
    Thêm vào đặc điểm du lịch AG là sự phát triển của các loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, hành hương, du lịch nhà vườn, câu cá, ngủ ở bè, thưởng thức các món ăn dân dã lạ miệng như bún mắm, bún nước lèo, lạp xưởng bò, bánh cống… với hương vị đậm đà đặc trương của miền sông nước Nam Bộ.
  • Tất cả những đặc điểm trên như một sự ưu đãi riêng để AG mau chóng trở thành một vùng đất có sức hút đặc biệt về du lịch. Chúng góp phần tạo nên một AG với phong thái rất đặc sắc và cá biệt mà không nơi nào có được.
    Ngày nay, An Giang đang trên đà phát triển mọi mặt về kinh tế, xã hội… là vùng đất giàu tiềm năng du lịch nên Tỉnh đã và đang ra sức nổ lực tập trung đầu tư, khai thác chúng để phát triển du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Trong đó, An Giang đang phấn đấu để nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch. Tất cả với tiêu chí:
    “An Giang mời gọi các nhà đầu tư An Giang điểm hẹn du lịch
    An Giang đón chào quí khách”.
  • Lâm viên Núi Cấm sưu tầm

Những địa điểm du lịch An Giang gắn liền với các tác phẩm văn học

An Giang có gia tài văn học phong phú và giàu bản sắc địa phương. Chỉ tính riêng phần văn học dân gian, vùng đất này đã có khoảng 2000 truyện và hơn 1000 trang ca dao dân ca [2]. Vì những lẽ đó, để làm tốt “phần hồn” của các tour du lịch An Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang nên phối hợp với các đơn vị du lịch lữ hành thực hiện những đợt tập huấn định kì, phổ biến tư liệu để giúp đỡ các HDV cập nhật các nguồn kiến thức mới mẻ, đầy đủ, đáng tin cậy về văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học nghệ thuật An Giang. Điều quan trọng là, cần định hướng cho họ phương pháp chuyển tải những kiến thức này vào việc thuyết minh có hiệu quả trong các tour du lịch. Ví dụ, với mảng văn học, mỗi HDV phải nắm tối thiểu các câu chuyện, các truyền thuyết có liên quan đến địa danh, địa hình, danh nhân văn hóa, nhân vật lịch sử… Xem các gợi ý ở bảng I:

BẢNG : CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TƯƠNG ỨNG VỚI ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH

 

Khu, địa điểm du lịch Tên truyện
Khu du lịch Núi  Cấm,huyện Tịnh Biên Sự tích  núi  Cấm, Sự  tích hangÔng Hổ
Xem: du lịch núi cấm An Giang
Khu di tích lịch sử – văn hóa Núi Sam, Châu Đốc Sự tích núi Sam, Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ, Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, Trộm kiềng Bà Chúa Xứ, Truyền thuyết về Thất Nương thánh miếu, Sự tích chùaHang, Sự tích ba ông đá
Khu du lịch Núi Sập Sự tích núi Sập, Sự tích núi Ba Thê, núi Sập, núi Cậu, Sự tíchnúi Ông, núi Bà
Khu du lịch núi Cô Tô (khu  di  tích  đồi   TứcDụp) Sự tích đồi Tức Dụp
Sông ngòi, kênh rạch, các cù lao sinh thái giữa sông Tiền và sông Hậu Truyền thuyết về cù lao Ông Chưởng, Truyền thuyết về cù lao Ông Hổ, Sự tích cù lao Ông Hổ, Núi Nổi, Lịch sử kênh Vĩnh Tế,  Truyền  thuyết  Thoại NgọcHầu…

lâm viên núi cấm an giang

Lâu dài hơn, cần lược dịch các tài liệu về văn học nghệ thuật An Giang (có chọn lọc) sang những ngoại ngữ khác để HDV sẵn sàng chuyển tải đến du khách nước ngoài, hoặc in thành các cẩm nang gửi đến họ. Được như vậy, thành tựu văn học nghệ thuật An Giang vừa không mai một vừa góp phần làm sản phẩm du lịch trở nên phong phú, hoàn thiện.

  • Thiết kế gói du lịch văn học mini

Như đã trình bày ở trên, việc tổ chức một tour du lịch thuần túy văn học sẽ rất khó khăn. Do đó, trong điều kiện cụ thể, An Giang có thể thiết kế những gói du lịch mini trong toàn thể chương trình tour.

Để làm được điều này, trước hết, nhà tổ chức tour phải làm công tác khảo sát ý kiến khách, phân loại khách, từ đó đan cài các tiết mục du lịch văn học sao cho hài hòa và cân đối với toàn bộ chương trình tham quan cũng như tương ứng với nhu cầu, trình độ của khách.

Thứ hai, cần có những chuyên gia hỗ trợ “khoanh  vùng”  các  yếu tố  văn học  có  thể triển khai thành sản phẩm du lịch. Theo ý kiến của người viết, trường hợp Nguyễn Chánh Sắt rất đáng được quan tâm. Chỉ với tiểu thuyết Nghĩa hiệp kỳ duyên, nhà văn đã gợi lên bao nhiêu bối cảnh, sự kiện lịch sử, xã hội có thật như: vụ cháy chợ Tân Châu năm 1910 khiến nhiều gia đình ly tán. Việc Lâm Trí Viễn theo trọ học ở tỉnh thành Châu Đốc cũng là hoàn cảnh của chính Nguyễn Chánh Sắt. Bên cạnh giá trị văn học, tiểu thuyết cũng là một cẩm nang du lịch, văn hóa, phong tục, tộc người của nhiều vùng đất tại An Giang thông qua hành trình của các nhân vật. Tác phẩm có nhiều đoạn mô tả cảnh sắc An Giang với vô số địa danh quen thuộc: Tân Châu, Châu Đốc, núi Cô Tô, Tri Tôn, Cao Mên, kênh Vĩnh Tế, Tịnh Biên, núi Cấm… Một số chi tiết trong tiểu thuyết này giàu tính tạo hình như: chợ Tân Châu bị cháy, nhà ven sông, Chăng Cà Mum cưỡi trâu chạy băng qua những cánh đồng thốt nốt, Trọng Nghĩa và Thạch Quýt giao tranh trên ghe…

Thứ ba, cần có các “gói” đa dạng trong những chương trình du lịch có yếu tố văn học. Chẳng hạn như đối với khách du lịch trong nước, đối tượng ít nhiều có vốn kiến thức văn hóa, lịch sử về Tây Nam Bộ hoặc An Giang, thì tuyến điểm và chủ đề du lịch văn học, cách thuyết minh cũng sẽ khác so với khách du lịch quốc tế.

  • Tổ chức các dịch vụ, điểm mua sắm có tính văn học

Điểm nổi bật của du lịch An Giang là du lịch tâm linh. Do đó, ở miếu Bà Chúa Xứ, cần phải thiết kế những “không gian văn học” dựa trên ý tưởng của chùa Thanh Thủy (Nhật Bản) đã đề cập ở trên. Khách thập phương thường không tiếc tiền, tiếc công để thực hiện các hoạt động tâm linh như xin xăm, xin lộc… Do sợ mất trật tự và phát sinh các tệ nạn, miếu Bà Chúa Xứ gần như loại bỏ hoạt động xin xăm. Riêng “lộc bà” thì kiểu dáng không phong phú, chủ yếu phát miễn phí. Thiết nghĩ, An Giang nên học cách làm và bán các loại “bùa” bình an của Nhật cũng như tổ chức xin xăm văn minh như ở Chùa Bà Thiên Hậu (Mã Lai), Miếu Văn Võ (Đài Loan)… Ở các chùa, miếu này, xăm được dịch thành ba thứ tiếng, để theo từng ô số trong các hộc tủ. Người xin xăm sau khi có được số rồi thì chỉ cần đến ô tủ tương ứng để lấy xăm và gửi tiền tùy tâm vào thùng gần đó. Đặc biệt, ở Văn Võ Miếu, cách lấy xăm ở điện thờ Khổng Tử rất độc đáo. Người xin bỏ một đồng 10 tệ vào khe của tủ kính đặt ở tay phải của pho tượng Khổng Tử. Nhạc trỗi lên, “nàng tiên” robot trong tủ đi vào trong, vài giây sau bưng ra khay đựng lá xăm được cuộn tròn và thả ra một khe khác. Người xin xăm cũng có thể lấy xăm bằng cách bấm vào màn hình cảm ứng ở một chiếc máy khác trong điện thờ này. An Giang có nhiều đặc sản địa phương rất ngon như khô, mắm, đường thốt nốt, rượu cà na… nhưng chưa biết cách quảng bá. Cần tập hợp các câu chuyện, các giai thoại để thuyết minh cho sản phẩm thêm phần hấp dẫn, đáng tin cậy.

Lâm viên Núi Cấm sưu tầm

Giá vé công viên nước Thanh Long Núi Cấm

Là công viên nước duy nhất tại Việt Nam nằm trong lòng núi rừng hùng vĩ của vùng NÚI CẤM, vừa đẹp một cách bí ẩn hoang dã, vừa mang tính giải trí hiện đại, quy tụ hàng loạt các loại hình giải trí dưới nước mới lạ, đầy hấp dẫn cho cả người lớn và trẻ em với diện tích khủng hơn 20 hecta bảo đảm sẽ làm mê đắm hàng loạt bạn trẻ, gia đình khắp nơi trên cả nước

Giá vé vào Lâm Viên Núi Cấm và Giá vé công viên nước Thanh Long Núi Cấm

công viên nước thanh long

Bảng giá dịch vụ của Khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm năm 2020.

(Áp dụng từ ngày 18/01/2020)

CÔNG VIÊN NƯỚC THANH LONG – THIÊN ĐƯỜNG GIẢI TRÍ MIỀN TÂY NAM BỘ

Sau khi đã trải nghiệm những khám phá tâm linh giữa núi rừng hùng vĩ trên Thiên Cấm Sơn, du khách muốn được thả hồn giữa núi rừng, vừa yên bình vừa nghỉ ngơi, hãy ghé thăm khu công viên nước lớn nhất An Giang nằm trong khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm, với nhiều loại hình trò chơi giải trí dưới nước khác nhau. Nổi bật là:

  • Check in sống ảo tại Hồ Vô Cực
  • Khu vui chơi Amazon Kids muôn sắc màu cho thiếu nhi
  • Suối thác nhân tạo
  • Hồ tạo sóng thông minh
  • Máng trượt xoắn ốc đầy cảm giác mới lạ

Những hình ảnh của công viên nước Thanh Long Núi Cấm

giá vé công viên nước thanh long

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tìm hiểu về các làng nghề thủ công truyền thống tại An Giang

An Giang có nhiều nghề thủ công truyền thống: chạm khắc đá, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề dệt… mỗi nghề đều có lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo. Toàn tỉnh hiện nay có 82 làng nghề truyền thống gắn với dịch vụ phát triển du lịch. Một số làng nghề tiêu biểu như:

– Lụa Tân Châu: Từ xưa, Tân Châu đã nổi tiếng với nghề ươm tơ dệt lụa. Đây cũng chính là nơi sáng tạo nên loại lụa Mỹ A nổi tiếng một thời. Lụa Tân Châu nổi tiếng nhờ dệt bằng tơ tằm. Những sản phẩm bền và đẹp như hiện nay là kết quả của cả một quá trình người làng nghề không ngừng học hỏi, đổi mới công nghệ và luôn tìm ý tưởng sáng tạo nên những mẫu mã mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

làng lụa tân châu an giang

– Chiếu Tân Châu: Từ rất lâu người dân Tân Châu đã dệt ra những manh chiếu trắng dùng trong sinh hoạt. Chiếu này được dệt từ sợi lát, là loại chiếu có màu trắng hình thức giản đơn, chất lượng trung bình.

– Làng dệt thổ cẩm Châu Phong: Dân tộc Chăm ở An Giang có trên 12.000 người, sống tập trung thành ấp hay liên ấp, xen kẽ trong những xã của người Kinh. Địa bàn dân cư ấy trải dài từ khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia đến ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, huyện Phú Tân, nằm bên kia sông ngang thị xã Châu Đốc. Tộc người Chăm thường sống thành cụm ven sông. Đàn ông đánh bắt thủy sản, còn phụ nữ Chăm do tục cấm cung nên thường ở nhà dệt vải. Sản phẩm của phụ nữ Chăm được dệt nên bởi chất liệu tơ, sợi. Điểm nổi bật của sản phẩm dệt Chăm là nhuộm bằng chất liệu có từ thiên nhiên như mủ cây, vỏ cây và trái cây.

– Làng nghề mộc Chợ Thủ, xã Long Điền A: Xã Long Điền A nằm giữa hai thị trấn Chợ Mới và Mỹ Luông là hai đầu nối thuận lợi cho việc buôn bán và trao đổi hàng hóa. Làng nghề mộc Chợ Thủ Xã Long Điền A tập trung ở 04 ấp là Long Bình, Long Định, Long Thuận 1, Long Thuận 2 với 1.369 hộ tham gia nghề mộc. Sản phẩm của làng nghề rất đa dạng kể cả đồ chạm trổ nói chung là đồ trang trí nội thất, gồm các chủng loại gỗ khai thác từ rừng, gỗ công nghiệp, nhôm, mica và cimen…

Làng nghề mộc Chợ Thủ

Phát triển du lịch gắn với làng nghề không đơn thuần chỉ là trình diễn và bán sản phẩm. Du lịch làng nghề phải gắn với không gian văn hóa của mỗi làng nghề, đó là các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội của cộng đồng dân cư sống trong làng nghề đó. Du khách đến tham quan ngoài việc chiêm ngưỡng các quy trình để làm ra sản phẩm hoặc đích thân tham gia vào quy trình sản xuất sẽ được hòa mình vào với không gian văn hóa, kiến trúc của làng nghề để cảm nhận tận cùng những nét văn hóa ẩn chứa trong từng sản phẩm.

Hiện tại, du lịch An Giang đã tận dụng tốt sự kết hợp này, đem những làng nghề truyền thống vào phát triển du lịch, nhằm tạo việc làm cho người dân địa phương, thu hút khách du lịch, đồng thời cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh du lịch của An Giang đến với du khách, biết được những đặc trưng văn hóa, sinh hoạt sản xuất của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh việc phát triển làng nghề phục vụ cho du lịch thì hoạt động du lịch đôi khi cũng ảnh hưởng ngược trở lại, đó là do sự tập trung đông khách du lịch vào các làng nghề, làm mất đi tính tự nhiên, hoặc do sự xuất hiện của các dịch vụ phục vụ du khách làm cho các làng nghề truyền thống không còn mang tính đặc trưng riêng của mỗi nghề.

Bảy Núi Thất Sơn linh thiêng ở An Giang

Bảy Núi còn có tên là Thất Sơn, các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn xưng là Bửu Sơn, gồm bảy ngọn núi không liên tục, đột khởi trên đồng bằng miền Tây Nam Bộ, thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam.

1.- Nguồn gốc của Bảy Núi

Ngược dòng lịch sử khoảng một triệu năm trước, trong thời kỳ Pleistocene, hàng loạt các hoạt động tân kiến tạo đã làm vỏ trái đất ở khu vực Bảy Núi bị nức nẻ, lún sụt hoặc nhô cao nhiều nơi. Sau đó là những đợt biển tràn ngập cả vùng Nam Bộ khoảng 10.000 đến 11.000 năm thì chấm dứt. Dấu tích của những thời biển tiến này còn để lại các bậc thềm biển cổ ở những vùng quanh núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cường… của huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Phần nhô cao tức đồi núi ở An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km. Khởi đầu từ xã Phú Hữu (huyện An Phú) qua xã Vĩnh Tế (thị xã Châu Đốc), bao trùm lên gần hết hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, về tận xã Vọng Thê, Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập của huyện Thoại Sơn.
Đứng trên góc độ địa hình, có thể chia đồi núi An Giang thành hai dạng chính:-
• Dạng núi dốc: được hình thành trong thời kỳ tạo sơn mãnh liệt như đã nói trên, nên chúng thường cao và có độ dốc lớn trên 25 độ và phần lớn là đá cứng với nhiều pha tạp khác nhau (đá núi lửa và đá Granitoit có tuổi Jura thượng, đá Granite có tuổi Creta), như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài…
• Dạng núi thấp và thoải: được hình thành từ các thành tạo trầm tích và phun trào có tuổi trias và Creta nên có độ dốc nhỏ dưới 15 độ, độ cao thấp, ít khe suối và bề mặt có khi là đất, như núi Nam Qui, núi Sà Lon, núi Đất…
Và vùng Bảy Núi khi xưa là đất của Chân Lạp. Rồi trong một cuộc tranh giành quyền lực, Nặc Ông Tôn được chúa Nguyễn giúp đỡ đã trở lại ngôi vua. Để tạ ơn, Nặc Ông Tôn hiến đất Tầm Phong Long, trong đó có Bảy Núi, vào năm 1757.

2.- Giới thiệu tên 7 núi Thất Sơn

*- Bảy Núi (THẤT SƠN)
Bảy Núi là 7 ngọn núi tiêu biểu trong số 37 ngọn núi, ở hai huyện vừa kể trên. Tên Thất Sơn lần đầu được biên chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí (phần An Giang tỉnh, mục Sơn Xuyên), và gồm các núi: Tượng, Tô, Cấm, Ốc Nhẫm, Nam Vi, Tà Biệt và Nhân Hòa. Sau đó, Hồ Biểu Chánh trong Thất Sơn huyền bí và Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn mầu nhiệm, cho rằng đó là các núi: Tượng, Tô, Cấm, Trà Sư, Két, Dài, Bà Đội Ôm.
Còn theo Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1972; được Vương Hồng Sển dẫn lại trong Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam, thì đó là các núi: Tượng, Tô, Cấm, Sam, Két, Dài, Tà Béc…
Đến năm 1984, Trần Thanh Phương cho xuất bản Những Trang sử về An Giang, đã kể tên bảy Núi là:

• Núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), xem du lịch núi Cấm An Giang
• Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn)
• Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn),
• Núi Dài (Ngọa Long Sơn),
• Núi Tượng (Liên Hoa Sơn)
• Núi Két (Anh Vũ Sơn)
• Núi Nước (Thủy Đài Sơn).

Theo Địa chí An giang…., ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên có 37 ngọn núi đã có tên, nhưng con số 7 (bảy núi) vẫn không hề thay đổi.
Mặc dù Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn đã đề cập đến bảy điểm “linh huyệt” của vùng Thất Sơn, rồi chọn ra những núi đã nêu trên, nhưng so sánh lại những tên núi, vẫn có khác biệt.
Lý giải cho điều này, hiện nay vẫn chưa có lời giải thích nào ổn thỏa. Nhưng điều dễ thấy trong việc sắp xếp núi non này, đã chịu ảnh hưởng rất nhiều những yếu tố thần bí, siêu nhiên, phong thủy…

những khu vui chơi ở An Giang

3.- Khoáng sản của vùng Bảy Núi An Giang

Bảy Núi rất phong phú về khoáng sản, như:
• Nhóm vật liệu xây dựng: Đá granit ở núi Cô Tô, núi Ba Thê, núi Két, núi Tượng, núi Sập, núi Trà Sư…Cát xây dựng nằm theo triền hoặc nơi các trũng giữa núi Cấm và núi Dài.
• Nhóm vật liệu trang trí: Đá ốp lát ở núi Cấm, núi Dài Nhỏ…
Đá aplite, một thành phần quan trọng để sản xuất ra gạch ceramic, để làm hạ nhiệt nóng chảy của cát, trong các lò chế tạo thủy tinh, được tìm thấy nhiều nơi ở Bảy Núi.
Ngoài ra, còn có các khoáng sản khác, như: than bùn ở các xã Núi Tô, Châu Lăng, Lương Phi, Ba Chúc, An Tức…; mỏ vỏ sò ở núi Chóc; mỏ đất sét cao lanh, đá quý và ngọc ở Nam Qui, Tà Pạ; quặng kim loại molipden ở núi Sam, núi Két, núi Trà Sư; quặng mangan ở vùng Tà Lọt; nước khoáng thiên nhiên ở núi Dài, núi Cô Tô, núi Cấm và bột Diatomite ở núi Cấm, núi Dài…

4.- Thực vật vùng Thất Sơn

Khi xưa, vùng Bảy Núi phần lớn là rừng rậm nguyên sinh với nhiều loại gỗ quý. Đến thế kỷ thứ 17, nơi đây hãy còn hoang vu. Thái Văn Trừng đã xếp các quần thể rừng của Bảy Núi trong kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới với cấu trúc 3 tầng rõ rệt: tầng cây gỗ như dầu, căm xe, lăng ổi, bời lời, quế, gõ mật, nính…, tầng cây bụi như sâm ngọt, sâm núi, mua lông, bưởi, chanh…, tầng thân thảo và quyết thực vật như sa nhân, gừng dại, giềng rừng…

5.- Động vật tự nhiên

Trước đây, vùng Bảy Núi có nhiều loại chim muông và thú rừng. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí viết: Ở núi Nam Vi cây cối um tùm, khe sâu cỏ rậm, rất nhiều hươu, nai, hổ, báo…Còn ở núi Khe Săn (Khê Lạp) có cây tùng, cây trúc tốt tươi, hươu nai tụ tập…nhân dân thường đến núi này để tìm mối lợi.. Ngoài ra, Trịnh Hoài Đức còn cho biết về thú rừng có hổ, báo, nai, hươu, cáo, vượn, khỉ; về chim có phượng hoàng, quạ… Ngày nay, chỉ còn một số ít loài, như heo rừng, khỉ, nhím, rắn…còn phần nhiều những loài mà Trịnh Hoài Đức kể trên gần như không còn nữa.

6. – Thất Sơn suối cong nhả ngọc

Nói về mặt tự nhiên của vùng Bảy Núi, Gia Định thành thông chí mô tả: Hang núi ngậm mây, suối cong nhả ngọc, lại có những cây giáng hương, tóc hương, cây cối xanh um, cầm thú béo mập. Phía đông có ruộng đồng bằng phẳng, phía tây có hồ nước… Ngoài ra, còn nghe gà gáy dưới bóng trăng, chó sủa trong hang động, cảnh huống yên hà ngoài thế giới vậy
Ở trong sách trên còn cho biết sự hiện diện của những người Việt đến sinh sống, hòa nhập với người Khmer, ở vùng Bảy núi vào mấy thế kỷ trước. Họ đến để khai thác nguồn lợi thiên nhiên, lập vườn cây ăn trái, trồng hoa màu, tìm dược thảo, làm ruộng ở chân núi, bắt cá vào mùa hạn ở các ao đìa…
Sau này, vùng Bảy Núi còn là nơi hội tụ của những sĩ phu yêu nước trong phong trào Cần Vương. Vì nơi đây vừa có đồng bằng thuận lợi cho việc canh tác, vừa có núi rừng trú ẩn, có lối trốn sang nước Campuchia, nếu bị đối phương lùng sục… Cho nên rất nhiều người đã tìm đến đây, mỗi người mang mỗi tâm trạng, đến để chuẩn bị chiến đấu, để chờ thời cơ hay chỉ để lãng quên thực tế…. Vì vậy, vùng đất này gắn liền tên tuổi của nhiều danh nhân như: Đoàn Minh Huyên, Thủ Khoa Huân, Trần Văn Thành, Ngô Lợi, Phan Xích Long, Trương Gia Mô v.v…
Đây cũng là nơi hội tụ nhiều ông đạo, bởi vậy có câu: Tu Phật Phú Yên, tu tiên Bảy Núi
Vùng Bảy Núi còn là nơi có nhiều lễ hội, phong tục… đặc thù của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ, như lễ Chol Chnam Thmay, lễ Pisat bo chia, lễ Pha Chum Bênh (tức lễ Đôn Ta)…và đặc biệt hơn cả là lễ hội Đua bò Bảy Núi được diễn ra vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 hằng năm…

Ngoài ra, Bảy Núi còn là phên dậu nơi chốn biên thùy. Vua Gia Long đã từng nói: Địa thế Châu Đốc, Hà Tiên cũng không kém Bắc Thành…

Và là nơi có vô số danh lam, thắng cảnh…

Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, có câu:
Thất Sơn, hòn dọc dãy ngang,
Nói sao cho hết cả ngàn phong cương
NÚI CẤM
Núi Cấm còn được gọi là Núi Ông Cấm hay Thiên Cấm sơn, Thiên Cẩm Sơn; tên Khmer: Pnom ta piel hay Pnom po piêl; là một ngọn núi tại địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam.
1.- Vị trí, đặc điểm
Núi Cấm có độ cao 705 m, chiếm chu vi 28.600m, là một ngọn núi cao nhất trong Thất Sơn và cao nhất tỉnh. Núi nằm trên địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, cách trung tâm TP Long Xuyên khoảng 90km theo Quốc lộ 91 rẽ qua tỉnh lộ 948, và cách thị xã Châu Đốc không xa.
2.- Tên núi
Núi Cấm hay Cấm Sơn là tên gọi chính thức bằng văn tự đầu tiên xuất hiện trong Đại Nam nhất thống chí được biên soạn vào cuối thế kỷ 19. Sách đã miêu tả: …thế núi cao ngất, cây cối tươi tốt, là một trong Bảy Núi. Vì núi cao nên ít người lên đến chót.
Còn trước đó, theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, ngọn núi này được gọi là núi Đoài Tốn. Và tác giả cho biết núi cao 50 trượng, chu vi 20 dặm dư hình như cai đài cao, nghiễm nhiên ở về cung Thìn Tỵ nên gọi là núi Đài Tốn…Núi cao đột ngột, sinh sản các loài trầm hương, tốc hương, súc sa, cây sao, giáng hương, thông tre. Cây cối tốt tươi có đường cong queo thông trong núi sâu, dấu người qua lại, gần nơi đồng ruộng, xa có bến nước, kẻ cày cấy, người đánh cá chia từng loại ở nơi chân núi…
*Có nhiều giả thuyết về cái tên núi Cấm :-
Theo Nguyễn Văn Hầu, giả thuyết đáng tin cậy hơn cả là Đoàn Minh Huyên (tức Phật Thầy Tây An) đã cấm các tín đồ của mình lên đó cất nhà lập am, bởi sợ sẽ ô uế chốn núi thiêng.
Một giả thuyết khác, Nguyễn Phúc Ánh khi bị quân Tây Sơn truy nã, có lúc phải vào núi này nương thân. Muốn tông tích được giấu kín, các cận thần phao tin có ác thú, yêu quái, để cấm dân chúng vào núi.
Cũng có người cho rằng tướng cướp Đơn Hùng Tín (biệt danh của Lê Văn Tín, quê Cao Lãnh) có lúc dùng nơi này làm sào huyệt. Sợ lộ, Tín cấm dân lên núi.
3.- Năm Vồ
Vồ (hoặc non), từ dùng chỉ một chỏm cao trên dãy núi.
Theo Nguyễn Văn Hầu [4], năm non trên núi Cấm bao gồm :
• Vồ Bồ Hong: cao 705 m[2], cao nhất. Tương truyền vồ có tên này, vì trước đây có nhiều côn trùng gọi là bồ hong sinh sống. Ở trên vồ cao này có tượng thờ Ngọc Hoàng, là nơi được nhiều người đến tham quan và lễ bái.
• Vồ Đầu: đỉnh cao đầu tiên của Núi Cấm tính từ phía Bắc, cao 584 m.
• Vồ Bà: cao 579 m, có điện thờ Bà Chúa Xứ.
• Vồ Ông Bướm: (hay Ông Voi) cao 480 m tương truyền xưa kia có hai người Khmer lưu lạc tên ông Bướm và ông Vôi đến cư trú, nên mới có tên như thế.
• Vồ Thiên Tuế: cao 541 m, nơi đây trước kia là rừng cây thiên tuế.
Thực tế, núi Cấm còn có nhiều vồ hơn nữa, như Vồ Chư Thần, Vồ Cây Quế, Vồ Mồ Côi, Vồ Đá Dựng, Vồ Pháo Binh v.v…

4.- Danh thắng Thất Sơn An Giang

Núi Cấm nơi du lịch nổi tiếng của tỉnh An Giang: vì núi có dáng vẻ hùng vĩ, khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp và cây cối luôn xanh tươi. Trên núi có: Chùa Vạn Linh, chùa Phật Lớn, tượng Phật Di Lặc, Cao Đài Tự…
Ngoài ra, dọc theo những lối mòn từ chân lên tới đỉnh núi có nhiều điểm tham quan như: suối Thanh Long, suối Tiên, điện Cây Quế, điện Mười Ba, điện Tam Thanh, điện Huỳnh Long, hang Ông Thẻ, hang Ông Hổ, hang Bác Vật Lang, động Thủy Liêm.
Dưới chân núi Cấm, về phía Đông là khu du lịch Lâm Viên, với diện tích khoảng 100 ha, có cảnh quan đẹp, có đường tráng bê tông khá rộng lên đến đỉnh.
Bên cạnh các nguồn lợi từ du lịch, hành hương, cây trái… núi Cấm còn có các nguồn lợi khác từ tài nguyên, như đá xây dựng, cát núi, đất sét cao-lanh và nước khoáng thiên nhiên…
Núi Cấm An Giang (còn gọi là Thiên Cấm Sơn) cách Châu Đốc gần 30km đi về hướng Tịnh Biên – Tri Tôn; 710m là ngọn cao nhất trong dãy Thất Sơn. Những ngọn còn lại: núi Trà Sư, núi Két, núi Bà Đội Om, Cô Tô, núi Dài, núi Tượng…
Càng đi về phía mạn Campuchia càng thấy rõ ven đường là những dải đồng được viền bằng màu xanh của những cây thốt nốt cao vút, lá tua tủa. Những hàng quán đặc sản mắm khá dày.
Vùng đệm này là điểm mút của “cái lá dâu” trong kế lược tằm ăn rỗi (tàm thực) của Nguyễn Cư Trinh năm 1757 nhằm mở mang bờ cõi về điểm cùng của phương Nam. Đất này còn thể hiện rõ dấu ấn văn hoá Chân Lạp trong ngôn ngữ của một số cư dân địa phương hay hệ thống chùa Khơme…
“Đường dẫn” Thiên Cấm Sơn
Đến chân núi đã quá nửa chiều. Một nhóm chọn cách đi xe ôm theo con đường mới mở, xe bốn chỗ lên đỉnh núi khá rộng, dài 7km. Đứng từ xa nhìn, như một vết lằn lở lói chém xéo vách núi. Giá xe ôm: 50 ngàn cho một cuốc đi, về (nếu có ý định đi xe ôm nên thoả thuận giá trước, tránh tình trạng co kéo về sau).
Cũng như những điểm hành hương khác, cảnh ngổn ngang hàng quán bình dân và mời chào khá rộn ràng dù không phải là mùa đông du khách.
Trong đoàn, có người vừa hay tin mẹ mình lâm trọng bệnh, chị ta quyết định leo 4 km đường bộ để lên núi gặp Phật, khấn nguyện cho mẹ mình tai qua nạn khỏi.
Hai bên là những hàng quán xộc xệch, ngổn ngang lều bạt, bán cơm, nước phục vụ khách hành hương, nhiều đặc sản, trong đó một số quán còn rao bán cả thịt rừng. Nhiều gian che tạm cho khách thuê ngồi nghỉ trưa hoặc ngủ lấy sức trên chặng đường “đăng sơn kiến Phật”.
Kiểu kinh doanh bình dân đặc trưng trong du lịch hành hương của người Việt. Những con dốc đứng, nhiều chặng đường nhầy nhụa sình lầy và ổ gà, ổ voi… rồi cũng đến được đỉnh núi.
Trải ra trước mắt là một khung cảnh hoàng hôn huyền ảo. Mặt trời nghiêng đỏ trên vồ Bồ Hong – 710m, đỉnh cao nhất của núi Cấm (dân địa phương gọi đỉnh là vồ). Những vồ Đầu Tròn, vồ Bướm thoai thoải như hình sấp của đôi cánh bướm… phô lên nền trời rực đỏ một sắc của không gian huyền thoại.
Ngọn tháp bảy tầng của chùa Vạn Linh như một điểm nhấn đẹp trên nền hoàng hôn an bình. Vạn Linh Tự với những mái cong như những đài sen phá cách và phóng khoáng, một kiểu kiến trúc gần với chùa Phật giáo Đại Thừa.
Đứng từ tầng thứ 7 của ngọn tháp này, phóng tầm mắt có thể thấy hình dáng trải dài 30 km của dãy Thất Sơn, chạy dài theo trên mạn bằng chỉa cửa sông. Và đứng từ đây cũng thấy rực lên trong màu nắng chiều là tượng Phật Di Lặc với nụ cười an lạc vô ưu.
Tượng cao 32m đang được xây dựng vào giai đoạn cuối có bàn chân giao chỉ. Bên trong tượng là ngôi nhà 8 tầng, nghe nói sẽ là nơi để khách hành hương về vãng chùa viếng Phật có thể ở lại tĩnh tâm.
Gặp nụ cười của Phật toả sáng trên đỉnh Núi Cấm, cao nhất của dãy Thất Sơn. Người đàn bà đứng tuổi đã vượt qua chặng đường dài, quỳ trước tượng Phật và khấn nguyện cho người mẹ được bình yên.
Hành trình tâm linh – khám phá núi Cấm hoàn tất với cuộc diện kiến Phật ngay trong chính những bước chân thành tâm lẫn thách thức trở ngại! Hành trình thoả mãn vì đích đến là nụ cười của Phật!

vùng đất thất sơn an giang

5. – Rừng Trà Sư – An Giang

Rừng tràm Trà Sư nằm trong khu vực Thất Sơn hùng vĩ, thuộc xã Văn Giáo huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, cách sông MêKông 15km về phía đông bắc và cách Campuchia 10km về phía tây bắc. Nơi đây đang là điểm du lịch hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan và nghiên cứu khoa học…
Rừng tràm Trà Sư là khu rừng còn hoang sơ, thiên nhiên quyến rũ, là đặc trưng của loại rừng ngập nước khi mùa nước nổi dâng cao. Từ rừng Trà Sư nhìn về Thất Sơn phong cảnh non xanh nước biếc hữu tình – vẻ đẹp quyến rũ và thơ mộng của thiên nhiên ban tặng. Bên này rừng là ngọn Trà Sư, phía bên kia là Núi Két, núi Bà Đội Om, Núi Cấm, xa xa thấp thoáng ngọn núi Cô Tô mây trắng chập chờn lúc ẩn lúc hiện, tạo cảm giác êm đềm và trầm mặc của thiên nhiên.
Rừng tràm Trà Sư rộng 845ha, gồm nhiều loài thực vật, với 140 loài cá, 81 loài chim muông thú rừng và bò sát. Nơi đây còn nhiều sông, rạch, lung, bàu, trũng…dấu ấn của thời khai hoang vùng đất phương Nam.

6. – Tấm bia trấn yểm ở vùng Thất Sơn huyền bí

Hiện tại, nơi hậu liêu chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thành phố Châu Đốc, An Giang có một ngôi miếu nhỏ, bên trong là một tấm bia đá cổ.
Giữa mặt bia không có chữ nhưng nơi viền mép phải có chạm dòng chữ Hán “Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc đán”, có nghĩa là “Đời nhà Thanh, Vua Càn Long năm thứ 57, vào tháng 8, mùa thu”.
Tương truyền tấm bia đó là một đạo “bùa Cao Biền” trấn yểm long mạch vùng Cửu Long của người Tàu để người Việt đời đời phụ thuộc.
Chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang còn có tên gọi khác là chùa Bài Bài, Bà Bài hoặc chùa Ông Đạo Lập. Ngôi chùa cổ ven biên giới này được ghi nhận là di tích lịch sử cách mạng thời kỳ chống Mỹ của tỉnh An Giang.
Đây là một trong những địa chỉ giao liên đầu mối quan trọng của Thị ủy Châu Đốc và là nơi ẩn quân của các đơn vị bộ đội chủ lực trước năm 1975.
Không chỉ là di tích lịch sử cách mạng mà chùa Bồng Lai còn ẩn chứa nhiều di tích tâm linh kỳ thú.
Tấm bia bằng đá sa thạch, cao khoảng 90 cm, ngang khoảng 40 cm. Giữa mặt bia có vẻ như đã từng có chữ nhưng bị đục xóa trắng. Cô Út Diệu An – người giúp việc công quả thờ phụng trong chùa Bồng Lai từ nhiều năm nay khẳng định: “Cái bia ếm này có từ khi chùa mới lập cách nay hàng thế kỷ.
Rất nhiều tài liệu khảo cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng như Nguyễn Văn Hầu, Trần Văn Quế, Huỳnh Minh đều ghi nhận: Vào khoảng năm 1850, trong một lần cùng các vị đệ tử đi viếng Thủy Đài sơn (Núi nước), Phật Thầy Tây An phát hiện dưới gốc cổ thụ có ẩn một tấm bia đá được chôn giấu từ thuở nào, đất bồi lấp gần chìm hết.
Qua những nét chữ trên bia, Phật Thầy Tây An cho rằng đó là loại “Cao Biền trấn phù bia” dùng để trấn yểm linh khí.
Trong tài liệu khảo cứu của giáo sư Nguyễn Văn Quế về Bửu Sơn Kỳ Hương và trong các di tự của tín đồ cho biết, sau khi phát hiện ra bức “Cao Biền trấn phù bia”, Phật Thầy Tây An đã sai ông Đạo Lập khai quật lên đục bỏ những chữ bùa rồi đem về chùa Bồng Lai dùng phù chú “giam” trong cái miếu.
Ông Đạo Lập dùng xích sắt có yểm phù “trói” chân đế, phần chìm dưới đất của tấm bia để đảo ngược tác dụng. Có nghĩa là vùng đất bị trấn yểm sẽ nảy sinh nhiều nhân tài. Đó là lý do, dù là bia trấn yểm nhưng các tín đồ vẫn phải hương khói hàng ngày.

7. – Bảy Núi còn là phên dậu nơi chốn biên thùy.

Vua Gia Long đã từng nói: Địa thế Châu Đốc, Hà Tiên cũng không kém Bắc Thành…
Và là nơi có vô số danh lam, thắng cảnh…
Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, có câu:
Thất Sơn, hòn dọc dãy ngang, Nói sao cho hết cả ngàn phong cương.